Được tạo bởi Blogger.

Giới thiệu về tôi

Blogger templates

RSS

Pages

50 bài Giáo lý (Bản Toát yếu sách GLHTCG)

Giáo lý - Bài 1 : Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa
1.     Ý định của Thiên Chúa về con người là gì?
Thiên Chúa tự bản thể là Ðấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ý định hoàn toàn do lòng nhân hậu, Ngài đã tự ý tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian đến hồi viên mãn, Thiên Chúa Cha đã cử Con Ngài đến làm Ðấng Cứu Thế chuộc tội cho nhân loại đã sa ngã trong tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội Thánh Ngài, và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử và làm người thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài.
2.     Tại sao con người khát khao Thiên Chúa?
Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình, chính Thiên Chúa đã khắc ghi vào trong tâm hồn họ sự khát khao nhìn thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo họ đến với mình, để họ được sống và tìm được nơi Ngài chân lý và hạnh phúc viên mãn mà họ không ngừng tìm kiếm. Vì vậy, tự bản chất và do ơn gọi của mình, con người là một hữu thể tôn giáo, có khả năng đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa. Mối liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa đem lại cho con người phẩm giá căn bản của mình. 
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 1-2)

Giáo lý - Bài 2 : Con người “có khả năng” đón nhận Thiên Chúa
1.     Với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa không?
Khởi từ công trình tạo dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người, con người có thể chỉ dùng lý trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, là sự thiện hảo tối cao, là chân lý và vẻ đẹp vô cùng vô tận.
2.     Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có đủ khả năng để nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không?
Chỉ với ánh sáng của lý trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự mình, con người không thể nào đi vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa đã muốn soi dẫn con người bằng cách mạc khải cho họ, không những về những gì vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả về những chân lý tôn giáo và luân lý, tự chúng vốn không vượt quá khả năng của lý trí, như vậy mọi người có thể biết được những chân lý đó cách dễ dàng, chắc chắn và không sợ sai lầm.
3. Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa thế nào?
Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ tạo khác, vì đó là một phản ánh, dù rất hữu hạn, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta vì nó bất toàn và bị lệ thuộc vào hình ảnh, đồng thời ý thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 3-5)

Giáo lý - Bài 3 : Thiên Chúa đến gặp con người - Mạc khải của Thiên Chúa
1.     Thiên Chúa mạc khải cho con người điều gì?
Với lòng nhân hậu và sự khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính mình cho con người. Qua các biến cố và  lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ý định của lòng nhân hậu, mà Ngài đã hoạch định tự muôn đời trong Ðức Kitô vì lợi ích của con người. Ý định này nhằm cho mọi người, nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần, được thông phần sự sống của Thiên Chúa, để trở nên nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài.
2.  Những giai đoạn đầu tiên của mạc khải là gì?
Từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời gọi họ hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngã, Ngài đã không chấm dứt việc Mạc khải, nhưng đã hứa ban ơn cứu độ cho tất cả dòng dõi họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đã thiết lập với ông Noe một Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh vật.
3.     Những giai đoạn tiếp theo của mạc khải của Thiên Chúa là gì?
Thiên Chúa chọn ông Abraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành "cha của vô số dân tộc" (St 17,5) và hứa sẽ chúc lành cho "mọi gia tộc trên mặt đất" (St 12,3) qua ông. Dòng dõi ông Abraham là những kẻ được uỷ thác các lời Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ. Thiên Chúa đã lập Israel làm dân Ngài tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, thiết lập với họ Giao ước Sinai, và qua ông Môsê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đã loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa và một ơn cứu độ bao gồm mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Từ dân Israel, từ dòng dõi vua Đavít, Đấng Mêsia sẽ sinh ra: Đó là Chúa Giêsu.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 6-8)
 Giáo lý - Bài 4 : Mạc khải của Thiên Chúa (tiếp theo)
1.     Giai đoạn mạc khải trọn vẹn và cuối cùng của Thiên Chúa là gì?
Giai đoạn mạc khải trọn vẹn và cuối cùng của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng trung gian và viên mãn của Mạc khải. Chúa Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa, đã làm người, là Lời hoàn hảo và cuối cùng của Chúa Cha. Mạc khải đã được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội Thánh phải trải qua bao thế kỷ mới dần dần nhận biết ý nghĩa đầy đủ của Mạc khải.
3.     Các mạc khải tư có giá trị nào?
Các mạc khải tư mặc dầu không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng có thể giúp chúng ta sống đức tin, với điều kiện là các mặc khải đó vấn giữ một liên hệ chặt chẽ với Ðức Kitô. Huấn quyền Hội Thánh, có thẩm quyền để phân định các mạc khải tư đó, không thể chấp nhận những mạc khải nào muốn vượt qua hay sửa đổi Mạc khải cuối cùng là chính Ðức Kitô.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 9-10)
Giáo lý - Bài 5 : Lưu truyền mạc khải của Thiên Chúa
1.     Tại sao phải lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào?
Thiên Chúa "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2,4), nghĩa là nhận biết Ðức Giêsu Kitô. Vì thế, cần phải rao giảng Ðức Kitô cho mọi người, như chính lời Người dạy: "Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" (Mt 28,19). Ðiều này được thực hiện bởi Truyền thống Tông đồ.
2.     Truyền thống Tông đồ là gì?
Truyền thống Tông đồ là việc chuyển đạt sứ điệp của Ðức Kitô, đã được hoàn tất ngay từ lúc khởi đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, qua các cơ chế, phụng tự, và các sách được linh hứng. Các Tông đồ đã chuyển đạt mọi điều các ngài đã lãnh nhận từ Đức Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua các vị, cho mọi thế hệ đến tận thế.
3.  Truyền thống Tông đồ được thực hiện như thế nào?
Truyền thống Tông đồ được thực hiện bằng hai cách: qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách đơn sơ là Thánh Truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng ơn cứu độ được ghi lại bằng chữ viết.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 11-13 )
 Giáo lý - Bài 6 : Lưu truyền mạc khải của Thiên Chúa (tiếp theo)
1.        Tương quan giữa Thánh truyền và Thánh Kinh như thế nào?
Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu nhiệm Ðức Kitô được hiện diện và sung mãn trong Hội Thánh và cả hai cùng xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức tin duy nhất, nơi Hội Thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những chân lý được Mạc khải.
2.     Kho tàng đức tin đã được ủy thác cho ai?
Các thánh Tông đồ đã uỷ thác kho tàng đức tin cho toàn thể Hội Thánh. Nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận Mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi ngày một sâu xa hơn, và cố gắng áp dụng vào đời sống.
3.     Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin?
Chỉ có Huấn quyền sinh động của Hội Thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm Giám mục Rôma và các Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng chắc chắn về chân lý, cũng có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức trình bày các chân lý chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền này cũng áp dụng đối với các chân lý có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 14-16 )  
Giáo lý - Bài 7 : Thánh Kinh
1.     Tại sao Thánh Kinh dạy chân lý?
Bởi vì chính Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. Do đó  Thánh Kinh là quyển sách được linh hứng và dạy dỗ cách không sai lạc những chân lý cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật vậy, Chúa Thánh Thần đã linh hứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra những điều Thiên Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo không phải là một "tôn giáo của sách vở", nhưng là của Lời Thiên Chúa, "không là một lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống động" (thánh Bênađô Clairvaux).
2.     Quy điển các Sách Thánh là gì?
Quy điển các Sách Thánh là danh mục đầy đủ các Sách Thánh, mà Truyền thống Tông đồ đã phân định rõ ràng cho Hội Thánh. Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác phẩm Tân Ước.
3.     Ðâu là tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các người Kitô hữu?
Người Kitô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước làm chứng về phương pháp giáo dục của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Nhất là, các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ muôn loài, ngự đến.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 18, 20-21)

Giáo lý - Bài 8 : Thánh Kinh (tiếp theo)
1.     Chúng ta phải đọc Thánh Kinh như thế nào?
Thánh Kinh phải được đọc và giải thích với ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và với sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội Thánh, theo ba tiêu chuẩn: (1) phải chú ý đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh Kinh trong Thánh truyền sống động của Hội Thánh; (3) phải chú ý đến tính tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài hòa giữa các chân lý đức tin với nhau.
2.     Ðâu là tầm quan trọng của Tân Ước đối với các người Kitô hữu?
Đối tượng trung tâm của Tân Ước là Ðức Giêsu Kitô. Tân Ước dạy chúng ta chân lý cuối cùng được Thiên Chúa mạc khải. Trong Tân Ước, bốn quyển Tin Mừng - Matthêu, Marcô, Luca và Gioan - là những lời chứng chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa Giêsu; vì thế bốn quyển sách này là trung  tâm của tất cả các Sách Thánh và có một vị trí độc nhất trong Hội Thánh.
3.      Ðâu là sự thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước?
Thánh Kinh chỉ là một, vì chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương trình cứu độ duy nhất của Thiên Chúa và một linh hứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước: cả hai soi sáng cho nhau.
4.      Thánh Kinh giữ vai trò nào trong đời sống Hội Thánh?
Thánh Kinh nâng đỡ và thêm sức mạnh cho đời sống Hội Thánh. Ðối với con cái Hội Thánh, Thánh Kinh củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống thiêng liêng. Thánh Kinh là linh hồn của khoa thần học và giảng thuyết mục vụ. Tác giả Thánh Vịnh gọi Thánh Kinh là "đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 118 [119],105). Vì thế, Hội Thánh khuyến khích chúng ta thường xuyên đọc Thánh Kinh, vì "không biết Thánh Kinh là không biết Ðức Kitô" (thánh Giêrônimô).
 (Bản Toát yếu sách GLHTCG, số  19, 22-24)  
Giáo lý - Bài 9 : Lời đáp trả của con người với Thiên Chúa -Tôi tin
1.     Con người đáp trả như thế nào với Thiên Chúa, Ðấng tự mạc khải?
Ðược ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin, nghĩa là tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lý của Ngài, chân lý được Thiên Chúa bảo đảm vì Ngài là chính Chân Lý.
2.     Trong Thánh Kinh, ai là những chứng nhân chính yếu cho việc vâng phục đức tin?
     Có nhiều chứng nhân, nhưng đặc biệt là hai vị:
  Ông Abraham, dù bị thử thách, "vẫn vững tin vào Thiên Chúa" (Rm 4,3) và luôn vâng theo tiếng gọi của Ngài; vì thế ông trở thành "tổ phụ của tất cả những người tin" (Rm 4,11.18);
  Ðức Trinh Nữ Maria, trong suốt cuộc đời đã thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin: “Fiat mihi secundumverbum tuum - xin Chúa thực hiện cho tôi như lời thiên sứ nói" (Lc 1,38).
3.     Tin vào Thiên Chúa có ý nghĩa cụ thể gì cho con người?
Tin có nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lý do Ngài mạc khải vì Ngài chính là Chân lý. Tin có nghĩa là tin kínhThiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 25-27)

Giáo lý - Bài 10 : Tôi tin (tiếp theo)
1.     Ðức tin có những đặc điểm nào?
Ðức tin là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được cứu độ. Đức tin là hồng ân Thiên Chúa ban không và tất cả những ai khiêm tốn cầu xin đều có thể đạt tới. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lý trí con người, được lòng muốn thúc đẩy do tác động của Thiên Chúa, tự do chấp nhận chân lý Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin còn có đặc tính chắc chắn, vì được đặt nền tảng trên Lời Chúa; đức tin hành động "nhờ Ðức ái" (Gl 5,6); đức tin luôn tăng triển, đặc biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Ngay từ bây giờ, đức tin cho chúng ta nếm trước niềm vui trên trời.
2.     Tại sao không có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học?
Dù đức tin vượt lên trên lý trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, vì cả hai đều có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh sáng lý trí và ban đức tin cho con người.
"Tôi tin để hiểu, và tôi hiểu để tin" (Thánh Augustinô).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 28-29 )

Giáo lý - Bài 11 : Chúng tôi tin
1.     Tại sao đức tin là một hành vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính giáo hội?
Ðức tin là một hành vi cá nhân, vì đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Ðấng tự mạc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội, tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng: "Chúng tôi tin." Thật vậy, chính Hội Thánh tin: và như thế, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh đi trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. Vì thế, Hội Thánh là Mẹ và là Thầy. "Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội Thánh là Mẹ." (Thánh Cyprianô)
2.     Tại sao những công thức đức tin lại quan trọng?
Những công thức đức tin là quan trọng vì giúp chúng ta diễn tả, thấm nhuần, cử hành và cùng chia sẻ với những người khác các chân lý đức tin, qua việc sử dụng một ngôn ngữ chung.
3.     Phải hiểu như thế nào về đức tin duy nhất của Hội Thánh?
Dù được hình thành do nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, nhưng Hội Thánh đồng thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lãnh nhận từ một Chúa duy nhất và được chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội Thánh tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần - và dạy một con đường cứu độ duy nhất. Vì thế, chúng ta, cùng một lòng một ý, tin những gì chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra, và được Hội Thánh xác định là do Thiên Chúa mạc khải.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 30-32)
Giáo lý - Bài 12 : Các Kinh Tin Kính
1.     Các Kinh Tin Kính là gì?
Ðó là những công thức ngắn gọn, còn được gọi là những “bản tuyên xưng đức tin" hay "Kinh Tin Kính," qua đó Hội Thánh, ngay từ thuở ban đầu, đã diễn tả đức tin của mình một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và chung cho mọi tín hữu.
2.         Các Kinh Tin Kính cổ nhất là những kinh nào?
Đó là những Kinh Tin Kính dùng khi cử hành Bí tích Rửa tội. Vì Bí tích Rửa tội được ban "nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần" (Mt 28,19), nên các chân lý đức tin mà các người lãnh nhận Bí tích Rửa tội tuyên xưng, được phân chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.
3.     Các Kinh Tin Kính quan trọng nhất là những kinh nào?
Những kinh quan trọng nhất là:
Kinh Tin Kính của các Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa dùng khi cử hành Bí tích Rửa tội của Giáo hội Rôma;
Kinh Tin Kính Công Ðồng Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công Ðồng Chung đầu tiên, tại Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).
Hai kinh này vẫn còn là hai bản kinh chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Ðông Phương và Tây Phương.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 33-35)  
Giáo lý - Bài 13 : Tôi tin kính Đức Chúa Trời
1.     Tại sao bản tuyên xưng đức tin được khởi đầu bằng "Tôi tin kính Ðức Chúa Trời"?
Bởi vì xác quyết "Tôi tin kính Ðức Chúa Trời" là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc của mọi chân lý khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của tất cả những ai tin Thiên Chúa. 
2.     Tại sao chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất?
Bởi vì Thiên Chúa đã mạc khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài nói: "Nghe đây, hỡi Israel, Ðức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Ðức Chúa duy nhất" (Ðnl 6,4). "Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác" (Is 45,22). Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận điều này: Thiên Chúa là "Ðức Chúa duy nhất" (Mc 12,29). Tuyên xưng Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần cũng là Thiên Chúa và là Ðức Chúa không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy nhất.
3.     Thiên Chúa tự mạc khải với danh xưng nào?
Thiên Chúa đã mạc khải chính mình cho Môsê là Thiên Chúa hằng sống, "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp" (Xh 3,6). Ngài cũng mạc khải Danh Thánh huyền nhiệm của Ngài cho ông: "Ta là Ðấng Hằng Hữu" (YHWH). Ngay từ thời Cựu Ước, Danh Thánh của Thiên Chúa không được phép đọc lên, nên phải thay thế bằng danh hiệu Ðức Chúa. Như vậy trong Tân Ước, Chúa Giêsu được người ta gọi là Ðức Chúa, tức là được nhìn nhận là Thiên Chúa thật. 
4.     Có phải chỉ một mình Thiên Chúa "hiện hữu" không?
Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì chúng là và có, chỉ Thiên Chúa mới tự mình hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài là "Ðấng hằng hữu," không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa Giêsu cũng mạc khải rằng Người mang Danh Thánh: "Ta hằng hữu" (Ga 8,28).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 36-39)  
Giáo lý - Bài 14 : Mạc khải Danh Thiên Chúa
1.     Tại sao việc Mạc khải Danh Thánh Thiên Chúa là điều quan trọng?
Qua việc Mạc khải Danh Thánh, Thiên Chúa cho thấy sự phong phú chất chứa trong mầu nhiệm khôn lường của Ngài. Chỉ mình Ngài hiện hữu từ muôn thuở và cho đến muôn đời. Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài là Ðấng tạo thành trời đất. Ngài là Thiên Chúa trung tín, luôn gần gũi với dân để cứu độ họ. Ngài là Ðấng Thánh tuyệt đối, "giàu lòng thương xót" (Ep 2,4), luôn sẵn sàng tha thứ. Ngài là Hữu Thể thiêng liêng, siêu việt, toàn năng, vĩnh cửu, ngôi vị, trọn hảo. Ngài là chân lý và tình yêu.
« Thiên Chúa là Hữu Thể vô cùng tuyệt hảo, là Ba Ngôi cực thánh » (Thánh Turibius thành Mogrovejo).
2.     Phải hiểu "Thiên Chúa là chân lý" như thế nào?
Thiên Chúa là chính Chân lý; và do đó, Ngài không lầm lẫn, cũng không thể lừa dối ai. Ngài là "Ánh sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào" (1Ga 1,5). Người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đã được sai đi vào thế gian "để làm chứng cho chân lý" (Ga 18,37).
3.     Thiên Chúa mạc khải Ngài là Tình Yêu như thế nào?
Thiên Chúa tự mạc khải cho dân Israel rằng Ngài là Ðấng có một tình yêu mạnh mẽ hơn tình yêu của cha mẹ đối với con cái hoặc của vợ chồng đối với nhau. Tự bản chất, « Thiên Chúa là Tình Yêu" (1 Ga 4, 8.16), Ngài tự hiến ban mình cách trọn vẹn và ban không, Ngài "yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, [...] để nhờ Con Ngài, mà thế gian được cứu độ" (Ga 3,16-17). Khi sai phái Con Ngài và Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu.
4.     Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm những gì?
Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm : việc nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Ngài; sống trong tâm tình cảm tạ; luôn tin tưởng vào Ngài, cả khi gặp nghịch cảnh; nhận biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người, đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa; sử dụng cách đúng đắn những gì Thiên Chúa đã dựng nên.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 40-43)  
Giáo lý - Bài 15 : Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi
1.     Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là gì?
Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh. Các người Kitô hữu được Rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
2.     Chỉ dùng lý trí, con người có thể biết được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi hay không?
Thiên Chúa đã để lại những dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công trình tạo dựng và trong Cựu Ước; nhưng thực thể nội tại của Ba Ngôi cực thánh vẫn là một mầu nhiệm mà lý trí thuần túy của con người và ngay cả đức tin của Israel không thể nào đạt tới được, trước khi Con Thiên Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được gởi đến. Mầu nhiệm này đã được Ðức Giêsu Kitô mạc khải và là nguồn gốc của tất cả các mầu nhiệm khác.
1.     Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta điều gì về mầu nhiệm Chúa Cha?
Ðức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là "Cha", không những vì Ngài là Ðấng sáng tạo vũ trụ và con người, nhưng trên hết, vì từ đời đời Ngài đã sinh ra Chúa Con tự lòng mình, Ðấng là Ngôi Lời, là "phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1,3).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 44-46) 
Giáo lý - Bài 16 : Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi     (tiếp theo)
2.     Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta, là ai?
Ngài là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi cực thánh. Ngài là Thiên Chúa, hợp nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con. Ngài "xuất phát từ Chúa Cha" (Ga 15,26), Ðấng là nguyên lý không có khởi đầu, là nguồn gốc tất cả cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cũng xuất phát từ Chúa Con (Filioque), vì Chúa Cha đã trao ban Ngài cho Chúa Con như Ân ban vĩnh cửu. Ðược Chúa Cha và Chúa Con nhập thể sai phái, Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội Thánh đến sự nhận biết "Chân lý trọn vẹn" (Ga 16,13). 
3.     Hội Thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào?
Hội Thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi khi tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mà Ngài có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi vị thần linh chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, vì mỗi Ngôi vị đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt với nhau qua các liên hệ tương quan với nhau. Chúa Cha sinh ra Chúa Con: Chúa Con được Chúa Cha sinh ra; Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con.
4.     Các Ngôi vị Thiên Chúa hoạt động như thế nào?
Ba Ngôi vị thần linh không thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, thì cũng không thể tách rời trong các hoạt động của mình: Ba Ngôi có cùng một hoạt động duy nhất. Tuy nhiên, trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện diện theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi.
"Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Ba Ngôi con tôn thờ... xin ban bình an cho linh hồn con, xin biến linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, thành nơi cư ngụ mà Chúa ưa thích, và nơi nghỉ ngơi của Chúa. Ước gì con không bao giờ bỏ mặc Chúa một mình, nhưng ước gì con ở đó với trọn vẹn bản thân, hoàn toàn tỉnh thức trong đức tin, hoàn toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác cho hoạt động sáng tạo của Chúa." (Chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 47-49)
Giáo lý - Bài 17 : Thiên Chúa toàn năng tạo dựng vũ trụ
1.     Thiên Chúa toàn năng nghĩa là gì?
Thiên Chúa đã tự mạc khải là "Ðấng Mạnh Mẽ, Đấng Oai Hùng" (Tv 23 [24],8), Ðấng "không có gì là không thể làm được" (Lc 1,37). Sự toàn năng của Ngài là phổ quát và mầu nhiệm. Sự toàn năng này được biểu lộ trong việc sáng tạo vũ trụ từ hư vô và sáng tạo con người vì tình yêu, nhưng nhất là trong mầu nhiệm Nhập thể và trong sự Phục sinh của Con Ngài, trong hồng ân đón nhận chúng ta làm nghĩa tử và thứ tha tội lỗi. Vì thế, Hội Thánh dâng lời cầu nguyện lên "Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu". (“Omnipotens sempiterne Deus…”)
2.     Tại sao việc khẳng định rằng: "Lúc khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên trời và đất" (St 1,1) lại rất quan trọng?
Bởi vì việc tạo dựng là nền tảng cho tất cả các dự định cứu độ của Thiên Chúa. Tạo dựng biểu lộ tình yêu toàn năng và khôn ngoan của Thiên Chúa; đó là bước đầu tiên hướng đến Giao ước của Thiên Chúa duy nhất với dân Ngài; đó là khởi điểm của lịch sử cứu độ, lịch sử này đạt tới chóp đỉnh nơi Chúa Giêsu; đó là câu trả lời đầu tiên cho các câu hỏi căn bản của con người về nguồn gốc và cùng đích của mình.
3.     Ai đã tạo dựng vũ trụ?
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân chia của vũ trụ, mặc dù công trình tạo dựng vũ trụ được đặc biệt gán cho Chúa Cha.
4.     Vũ trụ được tạo dựng để làm gì?
Vũ trụ được tạo dựng để tôn vinh Thiên Chúa, Ðấng đã muốn biểu lộ và thông ban lòng nhân hậu, chân lý và vẻ đẹp của Ngài. Mục đích tối hậu của việc tạo dựng là để Thiên Chúa, trong Ðức Kitô, "có toàn quyền trên muôn loài" (1 Cr 15,28), vì vinh quang của Ngài và vì hạnh phúc của chúng ta.
"Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa" (Thánh Irênê).
5.     Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ như thế nào?
Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ cách tự do, bằng sự khôn ngoan và tình yêu. Vũ trụ không phải là sản phẩm của một luật tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi ngẫu nhiên. Thiên Chúa đã tạo dựng "từ hư vô" (ex nihino, 2 Mcb 7,28), một thế giới được sắp xếp trật tự và tốt lành, nhưng Ngài vô cùng siêu việt trên mọi loài. Ngài gìn giữ vạn vật trong sự hiện hữu, nâng đỡ bằng cách ban cho nó khả năng hoạt động và hướng dẫn nó đến sự trọn hảo, nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 50-54) 
Giáo lý - Bài 18 : Thiên Chúa quan phòng
1.     Sự quan phòng của Thiên Chúa là gì?
Sự quan phòng của Thiên Chúa là những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa hướng dẫn các thụ tạo của mình đến chỗ hoàn hảo cuối cùng mà Ngài đã định cho chúng. Thiên Chúa là tác giả tối cao của kế hoạch Ngài. Nhưng để thực hiện kế hoạch đó, Ngài cũng sử dụng sự cộng tác của các thụ tạo. Ðồng thời, Ngài ban cho chúng phẩm giá là tự mình hoạt động và trở thành nguyên nhân cho nhau.
2.     Con người cộng tác với sự Quan phòng của Thiên Chúa như thế nào?
Tuy vẫn tôn trọng tự do của con người, nhưng Thiên Chúa ban cơ hội và đòi hỏi con người cộng tác với Ngài qua hành động, kinh nguyện và cả sự đau khổ của họ, khi gợi lên trong họ "ước muốn cũng như hành động theo lòng nhân hậu của Ngài" (Pl 2,13).
3.     Nếu Thiên Chúa toàn năng và quan phòng, tại sao lại có sự dữ?
Chỉ có toàn bộ đức tin Kitô giáo mới có thể trả lời cho câu hỏi vừa bi thảm vừa mầu nhiệm này. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ, dù trực tiếp hay gián tiếp. Ngài làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ nhờ Con Ngài là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã chết và đã sống lại để chiến thắng sự dữ luân lý to lớn, là tội lỗi của con người, nguồn gốc của tất cả những sự dữ khác.
4.     Tại sao Thiên Chúa lại cho phép sự dữ xuất hiện?
Ðức tin giúp chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa đã không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó. Ðiều này Thiên Chúa đã thực hiện cách tuyệt vời trong cái chết và sự sống lại của Ðức Kitô. Thật vậy, từ sự dữ luân lý lớn nhất, là cái chết của Con Ngài, Ngài đã rút ra những điều thiện hảo vĩ đại nhất, đó là việc tôn vinh Ðức Kitô và là ơn cứu chuộc chúng ta.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 55-58) 
Giáo lý - Bài 19 : Tạo dựng trời và đất
1.     Thiên Chúa đã tạo dựng những gì?
Thánh Kinh nói: "Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất" (St 1,1). Trong bản tuyên xưng đức tin, Hội Thánh công bố Thiên Chúa là Ðấng Sáng Tạo muôn vật hữu hình và vô hình, mọi loài thiêng liêng và vật chất, nghĩa là các thiên thần và vũ trụ hữu hình, và đặc biệt nhất là con người.
2.     Các thiên thần là ai?
Các thiên thần là những thụ tạo hoàn toàn thiêng liêng, không có thân xác, vô hình và bất tử; đó là những hữu thể có ngôi vị, có lý trí và ý chí. Các ngài không ngừng chiêm ngắm Thiên Chúa diện đối diện và tôn vinh Thiên Chúa; các ngài phục vụ Thiên Chúa và là những sứ giả của Ngài để hoàn thành sứ vụ cứu độ loài người.
3.     Các thiên thần hiện diện trong đời sống của Hội Thánh như thế nào?
Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa; Hội Thánh kêu cầu sự trợ giúp của các ngài, và trong phụng vụ, Hội Thánh kính nhớ một số vị trong các ngài. "Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một thiên thần làm Ðấng bảo trợ và mục tử, hướng dẫn họ đến sự sống" (Thánh Basiliô cả).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 59-61)
Giáo lý - Bài 20 : Tạo dựng trời và đất (tiếp theo)
1.     Thánh Kinh dạy gì về việc tạo dựng thế giới hữu hình?
Qua chuyện kể "sáu ngày" tạo dựng, Thánh Kinh cho chúng ta biết giá trị của vũ trụ thụ tạo, và mục đích của nó là để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ con người. Mọi vật hiện hữu là nhờ Thiên Chúa, tất cả đều lãnh nhận từ Thiên Chúa sự tốt lành và hoàn hảo của mình, lề luật và vị trí của mình trong vũ trụ. 
2.     Ðâu là vị trí của con người trong công trình tạo dựng?
Con người là chóp đỉnh của các thụ tạo hữu hình, vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa.
3.     Các thụ tạo liên hệ với nhau như thế nào?
Theo ý Thiên Chúa, giữa các thụ tạo có mối liên hệ với nhau và một thứ bậc. Ðồng thời cũng có một sự hợp nhất và liên đới giữa các thụ tạo, vì tất cả đều có cùng một Ðấng Sáng Tạo, tất cả đều được Ngài yêu mến và được sắp đặt để tôn vinh Ngài. Vì thế, tôn trọng những lề luật đã được khắc ghi trong công trình tạo dựng và những mối tương quan phát xuất từ bản chất của mọi vật, là một nguyên tắc khôn ngoan và là một nền tảng của luân lý.
4.     Ðâu là mối liên hệ giữa công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc?
Công trình tạo dựng đạt tới tột đỉnh trong một công trình còn vĩ đại hơn nữa, là công trình cứu chuộc. Thật vậy, công trình cứu chuộc là khởi điểm cho việc tạo dựng mới, trong đó tất cả sẽ tìm được ý nghĩa trọn vẹn và sự viên mãn của mình.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 62-65) 
Giáo lý - Bài 21: Tạo dựng con người
1.     Phải hiểu "Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa" theo nghĩa nào?
Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa theo nghĩa họ có khả năng nhận biết và yêu mến một cách tự do Ðấng Sáng Tạo nên mình. Trên mặt đất, chỉ có con người là thụ tạo đã được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ và mời gọi họ thông phần vào đời sống thần linh của Ngài, nhờ nhận biết và yêu thương. Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị; họ không phải là một sự vật, nhưng là một con người có khả năng nhận thức về bản thân mình, tự hiến mình cách tự do và đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân.
2.     Thiên Chúa dựng nên con người với mục đích nào?
Thiên Chúa đã dựng nên tất cả cho con người, nhưng con người được dựng nên để nhận biết, phục vụ và yêu mến Thiên Chúa, để ở trần gian, họ dâng lên Thiên Chúa mọi thụ tạo mà tạ ơn Ngài, và để họ được nâng lên sống với Thiên Chúa trên trời. Chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể mà mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ. Con người được tiền định để hoạ lại hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người, Ðấng là "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" (Cl 1,15), hình ảnh trọn hảo.
3.     Tại sao mọi người làm thành một loài người duy nhất?
Tất cả mọi người làm thành một loài người duy nhất vì họ có cùng một nguồn gốc, được lãnh nhận từ Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, "đã tạo thành toàn thể nhân loại từ một người duy nhất" (Cv 17,26). Tất cả đều có một Ðấng Cứu Ðộ duy nhất. Tất cả đều được mời gọi chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 66-68)  
Giáo lý - Bài 22: Tạo dựng con người (tiếp theo)
1.     Trong con người, linh hồn và thể xác làm thành một thực thể duy nhất như thế nào?
Con người là một hữu thể vừa có yếu tố thể xác, lại vừa có yếu tố tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất tạo thành một bản thể duy nhất. Tính duy nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ nguyên lý tinh thần là linh hồn, mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một thể xác con người sống động, và được dự phần vào phẩm giá "là hình ảnh của Thiên Chúa." 
2.     Ai ban linh hồn cho con người?
Linh hồn thiêng liêng không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực tiếp, và nó bất tử. Linh hồn lìa khỏi thể xác trong giờ chết, nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sẽ tái hợp với thể xác trong ngày sống lại sau hết.
3.     Thiên Chúa đã thiết lập mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ?
Người nam và người nữ được Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và đồng thời họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đã muốn tạo dựng họ cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các ngôi vị. Cả hai cùng được mời gọi truyền lại sự sống con người, khi cả hai trở nên "một xương một thịt" (St 2,24) trong hôn nhân, và được mời gọi làm chủ trái đất như những "người quản lý" của Thiên Chúa.
4.     Tình trạng nguyên thủy của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là gì?
Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa đã cho họ thông phần cách đặc biệt vào đời sống thần linh của Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con người lẽ ra phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài ra, có một sự hài hòa tuyệt hảo nơi chính bản thân con người, giữa thụ tạo với Ðấng Tạo Hoá, giữa người nam với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 69-72) 
Giáo lý - Bài 23: Sự sa ngã
1.     Làm thế nào để hiểu được thực tại của tội lỗi?
Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ dưới ánh sáng của Mặc khải Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ mọi người, Ðấng làm cho ở đâu tội lỗi lan tràn thì ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.
2.     Sự sa ngã của các thiên thần là gì?
Với cách diễn tả này, người ta muốn nói rằng Satan và các ma quỉ khác, được Thánh Kinh và Thánh truyền nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên, nhưng đã trở thành ác xấu, bởi vì, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát, chúng đã từ chối Thiên Chúa và Vương quyền của Ngài, và như thế làm phát sinh ra hỏa ngục. Chúng cố gắng lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa; nhưng trong Ðức Kitô, Thiên Chúa xác định chiến thắng chắc chắn của Ngài trên Ác thần. 
3.     Tội đầu tiên của con người cốt tại điều gì?
Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim mình lòng tin tưởng đối với Ðấng Tạo Hoá của mình. Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở nên "như Thiên Chúa,"  mà không cần Thiên Chúa và không theo ý Thiên Chúa (St 3,5). Như thế, Ađam và Evà lập tức đánh mất, cho bản thân và cho tất cả dòng giống họ, ân sủng của sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 73-75)  
Giáo lý - Bài 24: Sự sa ngã (tiếp theo)
1.     Tội tổ tông truyền là gì?
Mọi người sinh ra đều mang tội tổ tông truyền, cũng gọi là  nguyên tội. Nguyên tội là tình trạng mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ. Ðó là một tội mà chúng ta " mắc phải" chứ không phải là một tội mà chúng ta « phạm »;  đó là tình trạng khi sinh ra, chứ không phải là một hành vi cá nhân. Vì mọi người đều cùng có một nguồn gốc duy nhất, nên tội này được truyền lại cho dòng dõi Ađam cùng với bản tính loài người, "không phải do bắt chước, nhưng qua truyền sinh." Việc truyền lại nguyên tội vẫn còn là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu được trọn vẹn.
2.     Những hậu quả khác do nguyên tội gây nên là gì?
Sau khi tổ tông đã phạm tội, bản tính con người không hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng bị thương tật trong các sức lực tự nhiên của mình, u mê dốt nát, phải đau khổ, bị sự chết thống trị và hướng chiều về tội lỗi. Sự hướng chiều này được gọi là dục vọng (concupiscentia).
3.     Thiên Chúa đã làm gì sau tội đầu tiên của con người?
Sau tội đầu tiên, thế gian đã bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người dưới quyền lực sự chết. Trái lại, Ngài đã tiên báo cách mầu nhiệm - trong "Tiền Tin Mừng" (x. St 3,15) - rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ được nâng dậy từ sự sa ngã. Ðó là lời tiên báo đầu tiên về Ðấng Mêsia cứu chuộc. Vì thế, chúng ta gọi sự sa ngã là "tội hồng phúc" (felix culpa), vì "nhờ có tội, ta mới có được Ðấng Cứu Chuộc cao cả dường này" (Phụng Vụ đêm Canh thức Vượt Qua).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 76-78)


Giáo lý - Bài 25: Tin Mừng về Chúa Giêsu Kitô
1.     Tin Mừng cho con người là gì?
Đó là lời loan báo về Ðức Giêsu Kitô, "Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16), Ðấng đã chết và đã sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và Hoàng Ðế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa đã thực hiện những lời Ngài đã hứa với Ábraham và dòng dõi ông, khi sai “Con Mình tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử" (Gl 4,4-5).

2.     Tin Mừng này được loan đi như thế nào?
Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Ðức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin vào Người. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Ðức Kitô làm nẩy sinh nơi các tín hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và huấn giáo, nghĩa là giúp mọi người nhận thấy toàn bộ kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu, và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Người. “TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ, LÀ CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA, CÙNG LÀ CHÚA CHÚNG TÔI”
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 79-80)  
Giáo lý - Bài 26: Tôi tin kính Chúa Giêsu Kitô, là Con một Đức Chúa Cha,cùng là Chúa chúng tôi
1.     Danh thánh "Giêsu" nghĩa là gì?
Danh thánh « Giêsu », được thiên thần đặt ngay từ lúc Truyền tin, có nghĩa là "Thiên Chúa cứu độ". Danh thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Chúa Giêsu, vì "chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội" (Mt 1,21). Thánh Phêrô khẳng định rằng "dưới gầm trời này không có danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào Danh đó mà được cứu độ" (Cv 4,12).
2.     Tại sao Chúa Giêsu được gọi là "Ðấng Kitô"?
"Kitô" là tiếng Hy Lạp, còn "Mêsia" là tiếng Hypri, có nghĩa là "được xức dầu". Chúa Giêsu là Ðấng Kitô vì Người được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần để đảm nhận sứ mạng cứu chuộc của Người. Người là Ðấng Mêsia mà dân Israel mong đợi, được Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Giêsu đã chấp nhận tước hiệu Mêsia, nhưng đã xác định rõ ràng ý nghĩa tước hiệu này: "từ trời xuống" (Ga 3,13), chịu đóng đinh rồi sống lại, Người là Tôi Trung Ðau Khổ, "hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,28). Từ tước hiệu Kitô này, chúng ta được mang danh hiệu là người Kitô hữu. 
3.     Chúa Giêsu là "Con Một Thiên Chúa" theo ý nghĩa nào?
Chúa Giêsu là "Con Một Thiên Chúa" theo một ý nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Người chịu phép rửa và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu là "Con yêu dấu" của Ngài. Khi Chúa Giêsu tự giới thiệu mình là người Con "biết Chúa Cha" (Mt 11,27), Người khẳng định mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của mình với Thiên Chúa là Cha của Người. "Người là Con duy nhất của Thiên Chúa" (1 Ga 4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Người là trung tâm lời rao giảng của các thánh Tông đồ: các Tông đồ đã nhìn thấy "vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một" (Ga 1,14).
4.      Tước hiệu "Ðức Chúa" có ý nghĩa gì?
Trong Thánh Kinh, thường tước hiệu này chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giêsu tự nhận cho mình tước hiệu này và mạc khải quyền tối thượng thần linh của Người qua quyền năng của Người trên thiên nhiên, trên ma quỷ, trên tội lỗi và trên cái chết, và nhất là qua cuộc Phục sinh của Người. Những lời tuyên tín đầu tiên của các người Kitô hữu công bố rằng quyền năng, danh dự và vinh quang dành cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu, Ðấng mà Thiên Chúa "đã tặng ban danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu" (Pl 2,9). Người là Ðức Chúa của trần gian và của lịch sử, là Ðấng duy nhất mà mọi người, với sự tự do của mình, phải hoàn toàn tùng phục. “BỞI PHÉP ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN MÀ NGƯỜI XUỐNG THAI, SINH BỞI BÀ MARIA ĐỒNG TRINH”.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 81-84)
Giáo lý - Bài 27: Mầu nhiệm Nhập thể
1.     Tại sao Con Thiên Chúa đã làm người?
Con Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là để chúng ta, là những kẻ tội lỗi, được giao hòa với Thiên Chúa, để cho chúng ta biết được tình thương vô bờ bến của Ngài, để trở nên mẫu gương cho chúng ta về sự thánh thiện và để cho chúng ta “được thông phần bản tính Thiên Chúa” ( 2 Pr 1,4).
2.     Hai tiếng "Nhập Thể" có nghĩa là gì?
Hội Thánh dùng từ "Nhập Thể" để gọi mầu nhiệm sự kết hợp tuyệt vời của thần tính và nhân tính trong Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Ðể thực hiện công cuộc cứu độ chúng ta, Con Thiên Chúa đã hóa thành "xác thể" (Ga 1,14), trở thành con người thật. Tin vào mầu nhiệm Nhập thể là dấu hiệu đặc trưng của đức tin Kitô giáo.
3.     Ðức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật như thế nào?
Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, không thể tách rời nhau trong sự duy nhất của Ngôi vị Thiên Chúa của Người. Chính Người là Con Thiên Chúa, là Ðấng "được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Ðức Chúa Cha", Người thật sự trở thành con người, trở thành anh em của chúng ta, mà vẫn không ngừng là Thiên Chúa, là Ðức Chúa của chúng ta.
4.     Công đồng Chalcedonia (năm 451) dạy gì về vấn đề này?
Công đồng Chalcedonia dạy chúng ta phải tuyên xưng: "một Chúa Con duy nhất, là Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hoàn hảo trong thần tính, và cũng hoàn hảo trong nhân tính; là Thiên Chúa thật và là người thật, gồm có một linh hồn có lý trí và một thân xác; đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính mà cũng đồng bản tính với chúng ta theo nhân tính, "giống chúng ta về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi" (Dt 4,15); sinh bởi Ðức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những thời cuối cùng này, vì chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa".
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 85-88)
Giáo lý - Bài 28: Mầu nhiệm Nhập thể (tiếp theo)
1.     Hội Thánh diễn tả mầu nhiệm Nhập thể như thế nào?
Hội Thánh diễn tả mầu nhiệm này khi xác quyết rằng Ðức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật, với hai bản tính là thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết hợp trong Ngôi Lời. Vì thế, trong nhân tính của Chúa Giêsu, tất cả - các phép lạ, đau khổ và cái chết - đều được qui về Ngôi vị thần linh của Người, Ðấng hoạt động qua nhân tính mà Ngôi vị này đảm nhận.
2. Có phải Con Thiên Chúa làm người có một linh hồn với tri thức nhân loại không?
Con Thiên Chúa đã đảm nhận một thân xác được một linh hồn nhân loại có tri thức làm cho sinh động. Với tri thức nhân loại, Chúa Giêsu đã học hỏi nhiều qua kinh nghiệm. Nhưng cũng với tư cách là con người, Con Thiên Chúa có một sự hiểu biết thâm sâu và trực tiếp về Thiên Chúa, Cha của Người. Người cũng nhìn thấu những tư tưởng thầm kín của con người và hiểu biết đầy đủ các ý định muôn thuở mà Người đến để mạc khải.
2.     Hai ý muốn nơi Ngôi Lời nhập thể hợp tác với nhau như thế nào?
Chúa Giêsu có một ý muốn thần linh và một ý muốn nhân loại. Trong cuộc sống nơi trần gian, Con Thiên Chúa đã muốn,  theo nhân tính, điều mà Người đã quyết định, theo thần tính, với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về ơn cứu độ chúng ta. Ý muốn nhân loại của Ðức Kitô luôn theo ý muốn thần linh, không miễn cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa, ý muốn nhân loại của Người đã tùng phục ý muốn thần linh. 
3.     Ðức Kitô có một thân xác con người thật không?
Ðức Kitô đã đảm nhận một thân xác con người thật, qua đó Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình. Vì thế, Ðức Kitô có thể được trình bày và tôn kính qua các ảnh tượng thánh.
4.     Trái tim của Ðức Kitô nói lên điều gì?
Ðức Kitô biết và yêu thương chúng ta bằng một trái tim của con người. Trái tim của Người bị đâm thâu để cứu độ chúng ta, là biểu tượng tình yêu vô biên của Người đối với Chúa Cha và đối với mỗi người.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 89-93) 

Giáo lý - Bài 29 : Chúa Giêsu sinh bởi Đức Mẹ  Đồng Trinh

1.     Câu "Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai…" có ý nghĩa gì?
      Câu này có nghĩa là Ðức Trinh Nữ Maria đã thụ thai trong lòng mình Người Con Vĩnh Cửu bởi tác động của Chúa Thánh Thần chứ không có sự cộng tác của một người nam: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà" (Lc 1,35), đó là lời thiên thần đã nói với Ðức Maria lúc Truyền tin.
2.     "Sinh bởi Bà Maria Ðồng Trinh": tại sao Ðức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa?
Ðức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa bởi vì là Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 2,1; 19,25). Thật vậy, Ðấng mà Mẹ đã thụ thai bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đã thực sự trở nên con của Mẹ, chính là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Chính Người là Thiên Chúa. 
3.     "Vô Nhiễm Nguyên Tội" nghĩa là gì?
Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đã chọn Ðức Maria làm Mẹ của Con mình. Ðể chu toàn sứ mạng này, Mẹ đã được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Ðiều này có nghĩa là nhìn thấy trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã ban ân sủng gìn giữ Ðức Maria khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 94-96)
Giáo lý - Bài 30 : Chúa Giêsu sinh bởi Đức Mẹ Đồng Trinh (tiếp theo)
1.     Ðức Maria cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như thế nào?
Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Ðức Maria, suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm một tội riêng nào. Mẹ là "Ðấng đầy ân phúc" (Lc 1,28), "Ðấng hoàn toàn thánh thiện”. Khi Thiên Thần báo tin rằng Mẹ sẽ sinh "Con Ðấng Tối cao" (Lc 1,32), Mẹ đã tự do chấp nhận với "sự vâng phục của đức tin" (Rm 1,5). Ðức Maria tự hiến hoàn toàn cho con người và công trình của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, và với trọn tâm hồn, Mẹ chấp nhận ý định cứu độ của Thiên Chúa.
2.     Chúa Giêsu được thụ thai đồng trinh nghĩa là gì?
Ðiều này có nghĩa là Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Ðức Trinh Nữ chỉ do quyền năng của Chúa Thánh Thần mà thôi, không có sự can thiệp của người nam. Người là Con Chúa Cha trên trời theo thần tính, là Con của Ðức Maria theo nhân tính, nhưng thực sự là Con Thiên Chúa trong hai bản tính, vì nơi Người chỉ có một  Ngôi vị duy nhất, là ngôi vị thần linh.
3.     Câu "Ðức Maria trọn đời đồng trinh" có ý nghĩa gì?
"Ðức Maria trọn đời đồng trinh" có nghĩa là Mẹ "vẫn còn đồng trinh khi thụ thai Con mình, đồng trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho Người bú mớm, là người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh" (thánh Augustinô). Khi các Tin Mừng nói về "anh chị em của Chúa Giêsu," thì đó là những người bà con họ hàng gần của Chúa Giêsu, theo như cách nói quen dùng trong Thánh Kinh. 
4.      Ðức Maria làm Mẹ thiêng liêng của mọi người thế nào?
Ðức Maria chỉ có một người Con duy nhất, là Chúa Giêsu, nhưng trong Người, Mẹ là Mẹ thiêng liêng của mọi người đã được Chúa Giêsu đến cứu độ. Vâng phục bên cạnh Ađam mới là Ðức Giêsu Kitô, Ðức Trinh Nữ là bà Evà mới, bà mẹ đích thực của chúng sinh. Với tình yêu từ mẫu, Mẹ cộng tác vào việc sinh hạ và nuôi dưỡng họ trong lĩnh vực ân sủng. Vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Ðức Maria là hình ảnh của Hội Thánh, là sự thể hiện toàn hảo nhất của Hội Thánh.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 97-100) 
Giáo lý - Bài 31 : Mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô
1.     "Cả cuộc đời Ðức Kitô là một Mầu nhiệm" nghĩa là gì?
Cả cuộc đời của Ðức Kitô là một mạc khải. Ðiều có thể thấy được trong cuộc đời trần thế của Người dẫn chúng ta đến Mầu nhiệm vô hình, nhất là Mầu nhiệm Con Thiên Chúa của Người: "Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9). Ðàng khác, mặc dù ơn cứu độ đã được hoàn thành trọn vẹn qua thập giá và cuộc phục sinh, nhưng trọn cuộc đời của Ðức Kitô là Mầu nhiệm cứu độ, vì tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói và đã chịu đau khổ đều có mục đích là để cứu độ loài người sa ngã và để tái lập họ trong ơn gọi làm con Thiên Chúa. 
2.        Các mầu nhiệm của Chúa Giêsu đã được chuẩn bị như thế nào?
Trước hết, đã có một thời gian hy vọng lâu dài qua nhiều  thế kỷ, mà chúng ta lại sống khi cử hành Phụng vụ mùa Vọng. Ngoài sự chờ đợi chưa rõ ràng mà Thiên Chúa đã đặt trong tâm hồn các người ngoại giáo, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho việc Con Ngài ngự đến qua Giao ước cũ, cho đến thời ông Gioan Tẩy Giả, là người cuối cùng và lớn nhất trong các tiên tri.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 101-102)
Giáo lý - Bài 32 : Mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô    (tiếp theo)
1.     Tin Mừng về mầu nhiệm Giáng sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu dạy chúng ta điều gì?
Vào lúc Giáng sinh, vinh quang thiên quốc được tỏ lộ trong sự yếu đuối của một hài nhi. Phép cắt bì Chúa Giêsu đã lãnh nhận là dấu chỉ Người thuộc về dân Do Thái và là việc báo trước Bí tích Rửa tội của chúng ta. Hiển Linh là việc Đức Mêsia của Israel tỏ mình ra cho muôn dân. Lúc dâng Chúa vào trong Ðền Thờ, người ta nhận ra nơi ông Simeon và bà Anna sự chờ đợi của dân Israel, nay đến gặp gỡ Ðấng Cứu Ðộ của mình. Cuộc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội báo trước cả cuộc đời của Ðức Kitô sẽ chịu nhiều bách hại. Việc Người rời bỏ Ai Cập để trở về nhắc lại cuộc xuất hành và giới thiệu Ðức Kitô như ông Môsê mới: Người là Ðấng giải phóng đích thực và tối hậu. 
2.      Quãng đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth dạy chúng ta điều gì?
Suốt cuộc đời ẩn dật ở Nazareth, Chúa Giêsu đã âm thầm sống một cuộc sống bình thường. Như vậy, Người cho chúng ta hiệp thông với Người trong sự thánh thiện của đời sống thường ngày được dệt bằng lời cầu nguyện, sự đơn sơ, lao động, tình yêu gia đình. Việc vâng phục của Người đối với Ðức Maria và thánh Giuse, cha nuôi của Người, là hình ảnh của sự vâng phục con thảo của Người đối với Chúa Cha. Với đức tin, Ðức Maria và thánh Giuse đón nhận mầu nhiệm của Chúa Giêsu, dù rằng không phải lúc nào các ngài cũng hiểu được mầu nhiệm ấy.
3.     Tại sao Chúa Giêsu lãnh nhận từ tay ông Gioan "Phép rửa tỏ lòng hối cải để được ơn tha tội" (Lc 3,3)?
Ðể khởi đầu quãng đời công khai và để báo trước Phép rửa là cái chết của mình, Chúa Giêsu, dù không có tội lỗi nào, và là "Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian" (Ga 1,29), cũng chấp nhận bị liệt vào hàng tội nhân. Chúa Cha tuyên bố Người là "Con yêu dấu" của mình (Mt 3,17) và Thánh Thần ngự xuống trên Người. Phép rửa của Chúa Giêsu là hình ảnh báo trước Bí tích Rửa tội của chúng ta.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 103-105)
Giáo lý - Bài 33 : Mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô   (tiếp theo)
1.     Những cơn cám dỗ của Chúa Giêsu trong sa mạc nói lên điều gì?
Những cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu trong sa mạc thu tóm cơn cám dỗ của Ađam trong vườn địa đàng và những cơn cám dỗ của dân Israel trong sa mạc. Satan cám dỗ Chúa Giêsu về sự vâng phục sứ vụ mà Chúa Cha đã giao phó cho Người. Ðức Kitô, Ađam mới, đã chống lại cơn cám dỗ, và chiến thắng của Người báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong tình yêu con thảo của Người. Trong thời gian Phụng vụ Mùa Chay, Hội Thánh kết hợp với Mầu nhiệm này cách đặc biệt.
2.     Ai được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu loan báo và thực hiện?
Chúa Giêsu mời gọi mọi người gia nhập Nước Thiên Chúa. Cả kẻ xấu xa nhất trong các tội nhân cũng được mời gọi hối cải và đón nhận lòng thương xót vô biên của Chúa Cha. Ngay trên mặt đất này, Nước Thiên Chúa đã thuộc về những ai đón nhận với tâm hồn khiêm tốn. Chính cho những người này, những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa được mạc khải. 
3.     Tại sao Chúa Giêsu biểu lộ Nước Trời bằng các dấu chỉ và phép lạ?
Chúa Giêsu làm các dấu chỉ và phép lạ kèm theo lời của Người, để chứng tỏ rằng Nước Trời đang hiện diện nơi Người, là Ðấng Mêsia. Mặc dù đã chữa lành một số bệnh nhân, Người không đến để loại trừ mọi cái xấu ra khỏi trái đất, nhưng trước hết là để giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Cuộc chiến đấu chống lại ma quỉ báo trước rằng thập giá của Người sẽ chiến thắng "thủ lãnh thế gian" (Ga 12,31).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 106-108) 
Giáo lý - Bài 34 : Mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô  (tiếp theo)
1.     Trong Nước Trời, Chúa Giêsu đã trao quyền hành nào cho các Tông đồ của Người?
Chúa Giêsu chọn Nhóm Mười Hai, những người sẽ là chứng nhân cho cuộc phục sinh của Người. Người cho họ tham dự vào sứ vụ và quyền hành của Người để dạy dỗ, tha thứ tội lỗi, xây dựng và điều khiển Hội Thánh. Trong Nhóm này, thánh Phêrô lãnh nhận "chìa khóa Nước Trời" (Mt 16,19) và chiếm địa vị thứ nhất, có sứ mạng gìn giữ đức tin được toàn vẹn và làm cho các anh em mình nên vững mạnh.
2.     Việc Hiển Dung có ý nghĩa gì?
Trước hết, Thiên Chúa Ba Ngôi xuất hiện trong cuộc Hiển Dung: "Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong nhân tính của mình, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói" (thánh Tôma Aquinô). Khi nói với ông Môsê và ông Êlia về cuộc "ra đi của mình" (Lc 9,31), Chúa Giêsu cho thấy rằng vinh quang của Người phải đi qua thập giá; và Người báo trước cuộc phục sinh và cuộc trở lại trong vinh quang của Người, khi Người "sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người" (Pl 3,21).
"Lạy Chúa Kitô là Thiên Chúa, Chúa đã hiển dung trên núi và, tuỳ theo khả năng, các môn đệ chiêm ngưỡng vinh quang Chúa, để mai sau khi thấy Chúa chịu đóng đinh thập giá, họ hiểu rằng Chúa đã tự nguyện chịu khổ hình. Rồi họ sẽ loan báo cho thế giớ biết Chúa chính là vinh quang Chúa Cha chiếu tỏa" (Phụng Vụ Byzantin).
3.     Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với tư cách là Ðấng Mêsia như thế nào?
Vào thời gian đã định, Chúa Giêsu quyết lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại từ cõi chết. Với tư cách là Ðức Mêsia- Vua, Ðấng loan báo Nước Thiên Chúa đến, Người đi vào thành của Người, cỡi trên một con lừa. Những kẻ bé mọn đón rước Người bằng lời tung hô mà về sau được đưa vào kinh "Thánh! Thánh! Thánh!" trong Thánh Lễ: "Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa. Hosanna (xin cứu độ chúng con)” (Mt 21,9). Phụng vụ Hội Thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành biến cố này. “ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐÃ CHỊU NẠN ĐỜI QUAN PHONG XIÔ PHILATÔ, CHỊU ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THÁNH GIÁ, CHẾT VÀ TÁNG XÁC”
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 109-111)
Giáo lý - Bài 35: Mầu nhiệm Khổ nạn
1.        Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu có tầm quan trọng nào?
Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu, bao gồm cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và tôn vinh của Người, là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Vì ý định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất một lần thay cho tất cả nhờ cái chết cứu chuộc của Con Thiên Chúa là Ðức Giêsu Kitô.
2.     Chúa Giêsu bị kết án vì những lời tố cáo nào?
Một số thủ lãnh Israel đã tố cáo Chúa Giêsu chống lại Lề luật, chống lại Ðền thờ Giêrusalem và đặc biệt chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, bởi vì Người tự xưng mình là Con của Thiên Chúa. Chính vì thế họ đã nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết án tử hình.
3.     Chúa Giêsu đã có thái độ nào đối với Lề luật Israel?
Chúa Giêsu không bãi bỏ Lề luật do Thiên Chúa trao ban cho ông Môsê trên núi Sinai, nhưng Người đã làm cho Lề luật nên trọn bằng cách đem lại cho Lề luật lời giải thích tối hậu. Người là Ðấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, chu toàn Lề luật cách viên mãn. Ngoài ra, qua cái chết đền tội trong vai trò Người Tôi Trung, Người hiến dâng hy tế duy nhất có khả năng cứu chuộc tất cả "tội lỗi người ta đã phạm trong thời Giao ước đầu tiên" (Dt 9,15).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 112-114) 
Giáo lý - Bài 36: Mầu nhiệm Khổ nạn (tiếp theo)
1.     Chúa Giêsu đã có thái độc nào đối với Ðền thờ Giêrusalem?
Chúa Giêsu bị kết án là có thái độ thù nghịch với Ðền thờ. Thực ra, Người đã tôn trọng Ðền thờ như là "nhà của Cha mình" (Ga 2,16). Chính tại đó Người đã giảng dạy một phần giáo huấn quan trọng của Người. Nhưng Người cũng báo trước Ðền thờ sẽ bị tàn phá, trong liên hệ với cái chết của Người. Người tự giới thiệu mình là nơi ở vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa loài người. 
2.     Chúa Giêsu có đi ngược với niềm tin của Israel vào Thiên Chúa duy nhất và là Ðấng cứu độ hay không?
Chúa Giêsu không bao giờ đi ngược với niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, cả khi Người tha thứ tội lỗi, nghĩa là làm công việc đặc thù của Thiên Chúa, công việc thực hiện các lời hứa về Ðấng Mêsia và mạc khải Người ngang hàng với Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu mời gọi tin vào Người và ăn năn hối cải giúp chúng ta nhận ra tại sao Công nghị đã hiểu lầm Người cách bi thảm, nên cho rằng Người đáng phải chết vì là kẻ nói phạm thượng.
3.     Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu?
Không thể qui trách nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Ðấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, nhất là các Kitô hữu, thường xuyên sa ngã phạm tội và ham thích những thói xấu.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 115-117) 
Giáo lý - Bài 37: Mầu nhiệm Khổ nạn (tiếp theo)
1.     Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa?
Ðể tất cả mọi người, là những kẻ đáng chết vì tội lỗi, được giao hòa với Ngài, Thiên Chúa đã khởi xướng một việc đầy yêu thương là sai Con của Ngài đến phó mình chịu chết vì những kẻ tội lỗi. Cái chết của Ðức Kitô đã được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế của Người Tôi trung đau khổ, đã xảy ra "theo như lời Thánh Kinh."
2.     Ðức Kitô đã dâng hiến chính mình cho Chúa Cha như thế nào?
Ðức Kitô đã tự do dâng hiến tất cả đời sống cho Chúa Cha, để chu toàn ý định cứu độ của Ngài. Đức Kitô đã “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Nhờ đó, Người làm cho toàn thể nhân loại được giao hòa với Thiên Chúa. Sự đau khổ và cái chết của Người cho thấy nhân tính của Người là dụng cụ tự do và hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người.
3.     Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly?
Trong Bữa Tiệc Ly với các Tông đồ vào buổi tối trước cuộc Khổ nạn, Chúa Giêsu đã làm trước, nghĩa là Người ám chỉ và thực hiện trước, việc tự nguyện dâng hiến chính mình: "Ðây là Mình Thầy bị nộp vì anh em" (Lc 22,19); "Ðây là Máu Thầy đổ ra..." (Mt 26,28). Như thế, Người vừa thiết lập Bí tích Thánh Thể như việc "tưởng nhớ" (1 Cr 11,25) đến hy tế của Người, vừa đặt các Tông đồ của Người làm tư tế của Giao ước mới.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 118-120)

Giáo lý - Bài 38: Mầu nhiệm Khổ nạn (tiếp theo)
1.        Ðiều gì đã xảy ra trong cơn hấp hối nơi vườn Giêtsêmani?
Mặc dầu nhân tính rất thánh của Ðấng "khơi nguồn sự sống" (Cv 3,15) đã khiếp sợ sự chết, nhưng ý chí nhân loại của Con Thiên Chúa vẫn phục tùng thánh ý Chúa Cha: để cứu độ chúng ta, Chúa Giêsu chấp nhận gánh lấy tội lỗi chúng ta trong thân xác mình, khi Người "vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết" (Pl 2,8).
2.        Hiệu quả của hy tế  Ðức Kitô dâng trên thập giá là gì?
Chúa Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống mình làm hy lễ đền tội, nghĩa là Người đền bù tội lỗi chúng ta bằng sự vâng phục trọn vẹn của Người vì tình yêu cho đến chết. Tình "yêu thương đến cùng" (Ga 13,1) của Con Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại được giao hoà với Chúa Cha. Như vậy, Hy lễ Vượt qua của Ðức Kitô cứu chuộc mọi người cách độc nhất vô nhị, hoàn hảo và tối hậu, và mở lối cho họ vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.
3.         Tại sao Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ vác lấy thập giá của họ?
Khi kêu gọi các môn đệ vác thập giá mình mà theo Người, Chúa Giêsu muốn những người đầu tiên hưởng nhờ hy tế cứu độ của Người được kết hợp với hy tế ấy.
4.        Thân thể của Chúa Giêsu ở trong tình trạng nào khi Người nằm trong mồ?
      Ðức Kitô đã chết thật sự và đã được mai táng thật sự. Nhưng quyền năng Thiên Chúa đã gìn giữ thân thể Người khỏi bị hư nát. “ĐỨC GIÊSU KITÔ XUỐNG NGỤC TỔ TÔNG, NGÀY THỨ BA BỞI TRONG KẺ CHẾT MÀ SỐNG LẠI”.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 121-124) 
Giáo lý - Bài 39: Mầu nhiệm Phục sinh
1.     "Ngục tổ tông" mà Chúa Giêsu đi xuống là gì?
"Ngục tổ tông" - khác với hỏa ngục của án phạt - là tình trạng của những người chết trước thời của Chúa Giêsu, dù họ công chính hay xấu xa. Với linh hồn được kết hợp cùng Ngôi vị thần linh, Chúa Giêsu xuống với những người công chính trong ngục tổ tông, là những người đang mong chờ Ðấng Cứu Chuộc họ, để cuối cùng họ có thể đạt được sự hưởng kiến Thiên Chúa. Sau khi nhờ cái chết của Người, Chúa Giêsu đã chiến thắng cả sự chết lẫn ma quỉ là "lãnh chúa gây ra sự chết" (Dt 2,14), Người giải thoát những người công chính đang mong chờ Ðấng Cứu Chuộc, và Người mở cửa trời cho họ.
2.     Cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta?
Cuộc Phục sinh là chân lý cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Ðức Kitô. Với thập giá, cuộc Phục sinh là phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt qua.
3.     Những "dấu chỉ" nào làm chứng cho cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu?
Ngoài dấu chỉ chính yếu là mồ trống, cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu được làm chứng bởi những phụ nữ là những người đầu tiên đã gặp gỡ Người và đã báo tin cho các Tông đồ. Tiếp đó, Chúa Giêsu đã "hiện ra với ông Kêpha, (tức là thánh Phêrô), rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt” (1 Cr 15,5-6) và với nhiều người khác nữa. Các Tông đồ đã không thể bày đặt ra chuyện Phục sinh, vì đối với họ Phục sinh là chuyện không thể có được. Quả thật, Chúa Giêsu cũng đã trách cứ sự cứng lòng tin của họ.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 125-127)
Giáo lý - Bài 40: Mầu nhiệm Phục sinh (tiếp theo)
1. Tại sao Phục sinh cũng là một biến cố siêu việt?
Tuy là một sự kiện mang tính lịch sử, có thể xác định và chứng thực qua các dấu chỉ và lời chứng, nhưng vì là việc nhân tính của Ðức Kitô bước vào vinh quang của Thiên Chúa, nên Phục sinh cũng siêu việt và vượt quá lịch sử, thực sự là Mầu nhiệm đức tin. Chính vì thế, Ðức Kitô Phục sinh không tỏ mình ra cho thế gian, nhưng cho các môn đệ Người, làm cho họ trở thành những chứng nhân của Người trước mặt dân chúng.
2.  Thân xác phục sinh của Chúa Giêsu ở trong tình trạng nào?
Sự Phục sinh của Ðức Kitô không phải là một cuộc trở lại đời sống trần thế. Thân xác phục sinh của Người, cũng chính là thân xác đã chịu đóng đinh, và vẫn mang vết tích của cuộc khổ nạn, nhưng từ lúc Phục sinh, thân xác này được tham dự vào đời sống thần linh với những đặc tính của một thân xác vinh hiển. Vì thế, Ðức Giêsu Kitô Phục sinh tuyệt đối tự do khi hiện ra với các môn đệ, như Người muốn và ở nơi Người muốn, dưới nhiều hình dạng khác nhau. 
3.  Sự Phục sinh là công trình của Ba Ngôi Cực Thánh theo cách nào?
Sự Phục sinh của Ðức Kitô là một hành động siêu việt của Thiên Chúa. Cả Ba Ngôi cùng hoạt động chung theo tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi: Chúa Cha biểu lộ quyền năng của mình; Chúa Con "lấy lại" sự sống mà Người đã tự ý dâng hiến (Ga 10, 17), bằng cách kết hợp linh hồn và thân xác mình, mà Chúa Thánh Thần làm cho sống động và tôn vinh. 
4.  Ðâu là ý nghĩa và ảnh hưởng của cuộc Phục sinh đối với ơn cứu độ?
Phục sinh là chóp đỉnh của mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Ðức Kitô cũng như tất cả những gì Người đã làm và đã giảng dạy. Cuộc Phục sinh thực hiện tất cả các lời Thiên Chúa đã hứa vì lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Ðấng Phục sinh, Ðấng chiến thắng tội lỗi và cái chết, là nguyên lý cho việc công chính hóa và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử Thiên Chúa, nghĩa là được thực sự tham dự vào sự sống của Người Con Một, Ðấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống lại vào ngày tận thế. “CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI NGỰ BÊN HỮU ĐỨC CHÚA CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG”
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 128-131) 
Giáo lý - Bài 41 : Chúa Giêsu lên trời và sẽ ngự đến trong vinh quang
1.     Việc Ðức Kitô lên trời có ý nghĩa gì?
Trong vòng bốn mươi ngày, Ðức Kitô hiện ra với các tông đồ dưới hình dạng con người bình thường, che giấu vinh quang của Ðấng Phục sinh, sau đó Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Người là Chúa, từ nay với nhân tính của Người, Người        ngự trị trong vinh quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta nơi Thiên Chúa Cha. Người cử Thánh Thần của Người đến với chúng ta và ban cho chúng ta niềm hy vọng một ngày kia sẽ được theo Người, đến nơi Người đã dọn sẵn cho chúng ta. 
“NGÀY SAU BỞI TRỜI LẠI XUỐNG PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT”.  
2.     Hiện tại, Chúa Giêsu thống trị như thế nào?
Là Ðức Chúa của vũ trụ và lịch sử, là Đầu Hội Thánh của Người, Ðức Kitô vinh hiển vẫn hiện diện cách mầu nhiệm trên trần gian, nơi Nước của Người đã hiện diện như hạt giống và đã khởi đầu trong Hội Thánh. Một ngày kia, Người sẽ trở lại trong vinh quang, nhưng chúng ta không biết được ngày nào giờ nào. Vì thế, chúng ta sống tỉnh thức trong cầu nguyện: "Lạy Chúa, xin ngự đến" (Kh 22,20). 
3.       Việc Chúa ngự đến trong vinh quang sẽ diễn ra như thế nào?
Sau cuộc đảo lộn cuối cùng của vũ trụ, thế giới này qua đi, Ðức Kitô sẽ ngự đến vinh quang. Đó sẽ là chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa khi Đức Kitô quang lâm, và sẽ là cuộc phán xét cuối cùng. Như thế, Nước Thiên Chúa sẽ được hoàn thành.
4.      Ðức Kitô sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết như thế nào?
Ðức Kitô sẽ phán xét với quyền năng mà Người đã đạt được với tư cách là Ðấng Cứu Thế đã đến để cứu độ loài người. Những điều kín nhiệm trong tâm hồn cũng như thái độ của mỗi người đối với Thiên Chúa và tha nhân sẽ được tỏ ra. Mỗi người sẽ được tràn đầy sự sống hay bị kết án đời đời tùy theo các công việc họ đã làm. Như thế, "sự viên mãn của Ðức Kitô" (Ep 4,13) sẽ được thực hiện, trong đó "Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài" (1 Cr 15,28).
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 132-135)
Giáo lý - Bài 42 : Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần
1.     Hội Thánh muốn nói gì khi tuyên xưng: "Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần"?
Tin vào Chúa Thánh Thần là tuyên xưng rằng Ngài là Ngôi Thứ Ba của Ba Ngôi Cực Thánh; Ngài xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con, và Ngài "được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con". Chúa Thánh Thần được "sai đến trong lòng chúng ta" (Gl 4,6) để chúng ta có thể nhận lãnh sự sống mới của những người con của Thiên Chúa.
2.     Tại sao sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau?
Trong Ba Ngôi không thể phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không tách rời nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa Cha sai Con Ngài, thì cũng sai Thánh Thần của mình, Ðấng kết hợp chúng ta với Ðức Kitô trong đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là "Cha" (Rm 8,15). Chúa Thánh Thần vô hình, nhưng chúng ta biết được Ngài qua tác động của Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và khi Ngài hoạt động trong Hội Thánh.
3.     Những danh hiệu của Chúa Thánh Thần là gì?
"Chúa Thánh Thần" là Danh xưng của Ngôi Ba. Chúa Giêsu cũng gọi Chúa Thánh Thần là Ðấng An Ủi (Parakletos - Đấng bảo trợ) và Thần Chân Lý. Tân Ước còn gọi Ngài là Thánh Thần của Ðức Kitô, của Ðức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh quang, Thánh Thần của Lời hứa.
4.      Những biểu tượng của Chúa Thánh Thần là gì?
Có nhiều biểu tượng của Chúa Thánh Thần: nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của Ðức Kitô và giải cơn khát cho những người đã được Rửa tội; việc xức dầu, là dấu chỉ của Bí tích Thêm sức; lửa biến đổi tất cả những gì lửa bén tới; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong đó vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện; việc đặt tay thông ban Chúa Thánh Thần; chim bồ câu đã ngự xuống và ở lại trên Ðức Kitô lúc Người chịu phép rửa.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 136-139)

Giáo lý - Bài 43: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần (tiếp theo)
1.     "Chúa Thánh Thần đã dùng các tiên tri mà phán dạy" nghĩa là gì?
Từ  tiên tri ở đây được dùng để chỉ những người được Chúa Thánh Thần linh hứng để họ nói nhân danh Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đã làm cho các lời tiên tri trong Cựu Ước được ứng nghiệm hoàn toàn nơi Ðức Kitô; cũng chính Chúa Thánh Thần mạc khải mầu nhiệm Ðức Kitô trong Tân Ước.
2.      Hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi thánh Gioan Tẩy Giả như thế nào?
Chúa Thánh Thần đổ tràn trên thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Dưới tác động của Thánh Thần, ông được sai đi để "chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa" (Lc 1,17) và để loan báo việc Ðức Kitô, Con Thiên Chúa, ngự đến: đó là Ðấng mà ông đã thấy Thánh Thần ngự xuống và ở lại trên Người, Ðấng " làm phép rửa trong Thánh Thần" (Ga 1,33).
3.     Ðâu là hành động của Chúa Thánh Thần nơi Ðức Maria?
Nơi Đức Maria, Chúa Thánh Thần hoàn thành tất cả sự trông chờ và chuẩn bị trong Cựu Ước để đón Chúa Kitô đến. Một cách độc nhất vô nhị, Chúa Thánh Thần đã đổ tràn ân sủng trên Ðức Maria và làm cho đức trinh khiết của Mẹ có khả năng sinh nở, để Mẹ sinh hạ Con Thiên Chúa nhập thể. Chúa Thánh Thần đã làm cho Ðức Maria trở thành Mẹ của "Ðức Kitô toàn thể," nghĩa là của Ðức Kitô là Ðầu và của Hội Thánh là thân thể Người. Ðức Maria hiện diện giữa Nhóm Mười Hai ngày lễ Ngũ Tuần, khi Thánh Thần khai mở "thời đại cuối cùng" với việc xuất hiện của Hội Thánh.
4.     Trong sứ vụ trần thế, Ðức Giêsu Kitô có liên hệ gì với Chúa Thánh Thần?
Từ khi nhập thể, nhờ việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa đã được thánh hiến làm Đấng Mêsia trong nhân tính của Người. Ðức Kitô mạc khải Chúa Thánh Thần trong giáo huấn của Người, hoàn thành lời hứa đã được ban cho các tổ phụ. Người trao ban Thánh Thần cho Hội Thánh vừa mới sinh khi thổi hơi trên các Tông đồ sau khi Người Phục sinh.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 140-143)
Giáo lý - Bài 44: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần (tiếp theo)
1.     Ðiều gì đã xảy ra trong ngày lễ Ngũ tuần?
Năm mươi ngày sau cuộc Phục sinh, vào lễ Ngũ tuần, Ðức Giêsu Kitô vinh hiển đã đổ tràn Thánh Thần và mạc khải Ngài là một Ngôi Vị Thiên Chúa; như vậy Ba Ngôi cực thánh được mạc khải trọn vẹn. Sứ vụ của Ðức Kitô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ vụ của Hội Thánh, được sai đi công bố và loan truyền mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi.
2.     Chúa Thánh Thần làm gì trong Hội Thánh?
Chúa Thánh Thần xây dựng Hội Thánh, ban sinh khí - và thánh hóa Hội Thánh: Là Thánh Thần Tình Yêu, Ngài làm cho những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội nhận lại được ơn giống Thiên Chúa đã bị đánh mất vì tội lỗi; Ngài cho họ sống trong Ðức Kitô bằng chính Sự Sống của Ba Ngôi cực thánh. Ngài sai họ đi làm chứng cho Chân lý của Ðức Kitô và cắt đặt họ vào trong các phận vụ đối với nhau, để mọi người sinh "hoa trái của Thánh Thần" (Gl 5,22).
3.     Ðức Kitô và Thánh Thần của Người hoạt động như thế nào trong tâm hồn các tín hữu?
Nhờ các Bí tích, Ðức Kitô thông truyền Thánh Thần của Người và ân sủng của Thiên Chúa cho các chi thể trong Thân thể Người. Ân sủng này sinh hoa trái của đời sống mới theo Thánh Thần. Cuối cùng, Thánh Thần là Thầy dạy cầu nguyện.
 (Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 144-146) 
Giáo lý - Bài 45: Hội Thánh trong kế hoạch của Thiên Chúa
1.     Hai tiếng Hội Thánh có nghĩa là gì?
Hội Thánh là dân được Thiên Chúa kêu gọi và qui tụ từ khắp nơi trên thế giới, làm thành cộng đoàn gồm những người, nhờ đức tin và Bí tích Rửa tội, trở nên con cái Thiên Chúa, chi thể của Ðức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần.
2.     Trong Thánh Kinh, có những danh hiệu và hình ảnh nào khác để chỉ Hội Thánh không?
Trong Thánh Kinh chúng ta tìm thấy nhiều hình ảnh làm nổi bật những phương diện khác nhau của mầu nhiệm Hội Thánh. Cựu Ước hay dùng những hình ảnh liên hệ với dân Thiên Chúa. Tân Ước hay dùng những hình ảnh liên hệ với Ðức Kitô là Đầu của dân là Thân thể Người. Có những hình ảnh khác lấy từ đời sống chăn nuôi (chuồng chiên, đàn chiên, con chiên), từ đời sống nông thôn (cánh đồng, cây ôliu, vườn nho), từ nhà cửa (nhà ở, viên đá, đền thờ) và từ cuộc sống gia đình (người vợ, người mẹ, gia đình). 
3.     Ðâu là khởi đầu và hoàn thành của Hội Thánh?
Cả khởi đầu và sự hoàn thành của Hội Thánh đều nằm trong kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hội Thánh đã được chuẩn bị trong Giao ước cũ qua việc tuyển chọn Israel, là dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Hội Thánh được đặt nền tảng trên các lời nói và việc làm của Ðức Giêsu Kitô, và đặc biệt được thực hiện nhờ cái chết cứu chuộc và cuộc phục sinh của Người. Rồi Hội Thánh được tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ qua việc Thánh Thần được tuôn đổ trong ngày lễ Hiện Xuống. Hội Thánh sẽ hoàn thành vào ngày tận thế như cuộc tập họp trên thiên quốc của tất cả những người được cứu chuộc.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 147-149)
Giáo lý - Bài 46: Hội Thánh trong kế hoạch của Thiên Chúa (tiếp theo)
1.     Sứ mạng của Hội Thánh là gì?
Sứ mạng của Hội Thánh là rao truyền Nước Thiên Chúa mà Ðức Giêsu Kitô đã khởi đầu và thiết lập Nước ấy giữa mọi dân tộc. Trên trái đất, Hội Thánh là mầm giống và khởi điểm của nước cứu độ này.
2.     Hội Thánh là mầu nhiệm theo nghĩa nào?
Hội Thánh là mầu nhiệm bởi vì, trong thực tại hữu hình của mình, có một thực tại thiêng liêng thần linh đang hiện diện và hoạt động, mà chỉ con mắt đức tin mới có thể nhận ra.
3.      "Hội Thánh là bí tích phổ quát của ơn cứu độ" có nghĩa là gì?
Câu này muốn nói Hội Thánh là dấu chỉ và khí cụ cho việc giao hòa và hiệp thông toàn thể nhân loại với Thiên Chúa cũng như cho sự hợp nhất tất cả loài người.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 150-152)

Giáo lý - Bài 47 : Hội Thánh là Dân Thiên Chúa
1.     Tại sao Hội Thánh là Dân Thiên Chúa?
Hội Thánh là Dân Thiên Chúa, bởi vì Ngài muốn thánh hóa và cứu độ mọi người không phải cách riêng rẽ, nhưng thiết lập họ thành một Dân duy nhất, được qui tụ trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
2.     Ðâu là những đặc tính của Dân Thiên Chúa?
Dân Thiên Chúa mà chúng ta là thành phần nhờ đức tin vào Ðức Kitô và nhờ Bí tích Rửa tội, có cội nguồn là Thiên Chúa Cha, có Thủ lãnh là Ðức Giêsu Kitô, có địa vị là phẩm giá và sự tự do của con cái Thiên Chúa, có Lề luật là điều răn mới của tình yêu, có sứ vụ là trở thành muối và ánh sáng cho thế giới, có cùng đích là Nước Thiên Chúa, đã được khởi đầu trên trần thế.
3.      Dân Thiên Chúa dự phần như thế nào vào ba chức năng của Ðức Kitô là Tư tế, là Tiên tri và là Vương đế?
Dân Thiên Chúa được dự phần vào chức năng Tư tế của Ðức Kitô, vì các người đã chịu phép Rửa tội được Chúa Thánh Thần thánh hiến để dâng các hy lễ thiêng liêng. Họ được dự phần vào chức năng Tiên tri, vì nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, họ gắn bó vĩnh viễn với đức tin, đào sâu để hiểu biết đức tin và trở thành chứng nhân cho đức tin. Họ được dự phần vào chức năng vương đế qua việc phục vụ, noi gương Ðức Kitô Giêsu, là Vua vũ trụ đã trở nên tôi tớ mọi người, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 153-155)
Giáo lý - Bài 48: Hội Thánh là Thân Thể của Đức Kitô
1.     Hội Thánh là Thân thể của Ðức Kitô theo cách nào?
Ðức Kitô, Đấng đã chết và đã phục sinh, kết hợp các tín hữu với chính Người cách mật thiết, nhờ Chúa Thánh Thần. Như thế những ai tin vào Ðức Kitô, vì được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, thì cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh, sự hợp nhất của Hội thánh thực hiện trong sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ.
2.      Ai là đầu của thân thể này?
Ðức Kitô là "Ðầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh" (Cl 1,18). Hội Thánh sống nhờ Người, trong Người và cho Người. Ðức Kitô và Hội Thánh tạo thành "Ðức Kitô toàn thể" (thánh Augustinô). "Có thể nói: Ðầu và các chi thể làm thành cùng một con người mầu nhiệm" (Thánh Tôma Aquinô).
3.      Tại sao Hội Thánh được gọi là Hôn thê của Ðức Kitô?
Hội Thánh được gọi là Hôn thê của Ðức Kitô bởi vì chính Chúa đã tự xưng là "Hôn phu" (Mc 2,19), Ðấng đã

(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 156-158) 
Giáo lý - Bài 49: Hội Thánh là Đền thờ của Chúa Thánh Thần
1.     Tại sao Hội Thánh được gọi là Ðền thờ Chúa Thánh Thần?
Hội thánh được gọi  thế bởi vì Chúa Thánh Thần ngự trong thân thể là Hội Thánh, trong "Ðầu" và trong "các chi thể" của Hội Thánh; Ngài cũng xây dựng Hội Thánh trong đức mến, nhờ Lời Chúa, các Bí tích, các nhân đức và các đặc sủng.
"Linh hồn tương quan với các chi thể thế nào, thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Ðức Kitô, đối với thân thể Đức Kitô là Hội Thánh." (Thánh Augustinô). 
2.     Ðặc sủng là gì?
Ðặc sủng là những ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần được ban tặng cho một số người vì lợi ích của con người, vì những nhu cầu của thế giới và đặc biệt là để xây dựng Hội Thánh. Chỉ có Huấn quyền của Hội Thánh mới có thẩm quyền nhận định các đặc sủng.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 159-160) 
Giáo lý - Bài 50 : Tôi tin các thánh thông công
1.     "Các thánh thông công" có ý nghĩa gì?
Câu nói "các thánh thông công" trước hết nói lên rằng tất cả các thành phần Hội Thánh đều cùng chia sẻ những thực tại thánh (sancta): đức tin, các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, các đặc sủng và những ân huệ thiêng liêng khác. Cội nguồn của sự hiệp thông là đức ái "không tìm tư lợi" (1 Cr 13,5), nhưng thúc đẩy các tín hữu đặt "mọi sự là của chung" (Cv 4,32), kể cả của cải vật chất của họ, nhằm phục vụ những người nghèo khổ hơn.
2.      Câu nói "các thánh thông công" còn mang ý nghĩa nào khác nữa?
Câu này còn nói lên sự hiệp thông giữa những người thánh (sancti), nghĩa là những ai, nhờ ân sủng, được kết hợp với Ðức Kitô chịu chết và sống lại. Một số còn lữ hành trên trần gian; một số khác, đã rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện, và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau cùng, một số khác nữa, đang được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta. Tất cả cùng nhau làm thành một gia đình duy nhất trong Ðức Kitô, là Hội Thánh, để ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.
(Bản Toát yếu sách GLHTCG, số 194-195)


  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

MÓN ĂN NGÀY SỐNG

Hằng ngày đổ vào một lượng HY VỌNG
Hằng giờ thêm một ký BAO DUNG
Hằng phút thêm một gam QUẢNG ĐẠI
Đừng quên chút rượu NHIỆT THÀNH
Thêm tí dầu BỀN CHÍ
Rồi đổ tất cả vào nồi CẬY TIN
Đem nấu trên lửa TÌNH MẾN
Khi đã chín, sắp trên đĩa HIỆP THÔNG
Điểm thêm hoa TƯƠI VUI

Ta sẽ có món ăn NGÀY SỐNG đầy hấp dẫn và rất tuyệt vời. Chúc bạn có những ngày thật đẹp viết nên trang sử hùng. 

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

TẾT - NGÀY HỘI NGỘ

Khi muôn hoa đua nở khoe sắc, cảnh bình minh cũng rực rỡ chiếu ánh quang trên muôn nhà, với những chú chim vui đùa hót ca thì mùa xuân đang dần trở về trên quê hương đất nước. Tết Nguyên Đán, ngày đầu xuân, ngày của lễ hội truyền thống, ngày hạnh phúc đã đến. Ngày ấy phải gọi là ngày của hội ngộ!
1. TẾT, NGÀY HỘI NGỘ CỦA SỰ SỐNG
Khi mùa xuân thay áo mới, muôn cây cỏ đâm chồi, nảy lộc. Chẳng cần ai thúc bách, muôn hoa cũng chen nhau nở và khoe hương, khoe sắc cho đời. Những chú chim vui hót dưới ánh mặt trời tỏa rạng, những cơn gió thổi bồng tóc mây, thật nhẹ nhàng nhưng cũng thật khó quên.
Bên cạnh đó, những chú bé nhí nhảnh khoe áo mới tung tăng trên đường với khuôn mặt của thiên thần. Người người thi nhau sắm sửa, trang hoàng từ ngoài ngõ đến trong nhà. Sức sống trào tràn trên toàn đất nước làm hăng hái và phấn khởi tinh thần hơn lên.
Hơn bao giờ hết, những ước mơ trở thành hiện thực như: hạnh phúc, thư thái, trường thọ. Nhất là ngày tết, con cháu quây quần bên tổ tiên, ông bà, cha mẹ, để thấy rõ sự sống được tiếp nối và triển nở mạnh mẽ hơn.
2. TẾT, NGÀY HỘI NGỘ CỦA DÂN TỘC
Tết đánh dấu một năm mới, năm cũ đã qua đi, những buồn vui của năm cũ cũng qua đi. Năm mới người người cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất, dành cho nhau những gì mình yêu thích nhất. Những bôn ba ngày thường được nhường cho thư thái, nghỉ ngơi để có nhiều giờ cho nhau hàn huyên với chén rượu nồng, bánh chưng xanh bên dưa hấu đỏ.
Thường tình mái ấm chỉ vỏn vẹn trong canh nhà chừng hai, ba người hay nhiều lắm là bốn thế hệ của một gia tộc. Nhưng tết, gia tộc không dừng lại ở đôi mái nhà nhưng được mở ra với xóm làng, với anh em họ hàng gần xa. Tương quan người với người xích lại gần nhau.
Không chỉ người sống mới nối kết tình người nhưng cả người đã ra đi qua thế giới bên kia cũng được nối kết trong nén hương, lời kinh nguyện đầu năm nơi bàn thờ tổ tiên. Thật ý vị biết bao người Công giáo chọn ngày mồng hai tết là ngày kính nhớ tổ tiên; còn anh em Phật giáo lại rước ông bà về ăn tết.
Chính vì thế, người người nô nức chờ đón giờ phút linh thiêng của một năm mới. Đêm giao thừa, phút linh thiêng ấy không chỉ dành riêng cho một ai, nhưng cho tất cả mọi người, giàu cũng như nghèo đều hưởng phút hạnh phúc ấy. Vì thời gian không là vật sở hữu của riêng ai. Giây phút linh thiêng ấy không chỉ đến rồi đi nhưng để lại cho mỗi người một tuổi mới và những điều hứa hẹn mới.
3. TẾT, NGÀY HỘI NGỘ CỦA TÌNH YÊU
Con người không chỉ sống bằng khối óc nhưng còn bằng con tim. Những con tim luôn có những nhịp đập riêng tư. Vì thế, có khi cung nhịp chỉ nổi lên với người này mà không ở với người kia. Nhịp điệu dâng cao và vang vọng nhất vẫn là tình yêu đến. Nhưng tết là bản cao trào cho tình yêu. Mọi con tim đều rộn rã, mọi con tin đều hướng về, cho và vì người khác. Ai ai cũng sống vì tình yêu thật, không vị kỷ.
Vì thế, Tết đến ta trang hoàng nhà cửa, đường phố để làm cho cái đẹp thể hiện, nhờ đó người khác được vui mắt, vui lòng. Ta mặc áo đẹp không chỉ tôn thêm vẻ đẹp thân thể nhưng vì tôn trọng người xung quanh. Ta trao nhau những lời chúc tốt đẹp, những món quà tinh thần cũng như vật chất ta yêu quý nhất. Vì anh em đồng loại và văn hoá dân tộc, ta giữ gìn lễ nghĩa gia phong cách cẩn mật trong tinh thần tự giác.
Trong tình yêu không còn sự phân biệt. Tết là của mọi người, người nghèo cũng như của người giàu. Hơn nữa, tình yêu đẹp hơn khi tương quan giữa người với người được mở rộng và có chiều sâu tâm linh. Điều này làm cho người người luôn đẹp. Con người trở nên đẹp và qúi giá vì con người biết yêu!
Tết, ngày lễ hội dân tộc, ngày làm sống dậy sức sống dường như ẩn tàng, làm nhân lên sự sống tưởng như nhỏ bé nhưng thật hùng hậu và kiên vững!
Tết, ngày bắt đầu năm mới, ngày bắt đầu cho những điều may lành trong tương quan bằng hữu  người với người được mở ra mà ngày thường dường như bị lãng quên vì bôn ba trăm sự!
Tết, ngày hạnh phúc, ngày ý nghĩa nhất trong năm, và của hết mọi người vì người người đều đáng yêu!
Đó phải chăng là những chuyển giao những thông tin bé nhỏ và gắn kết người với người? Vậy đây không còn là lễ hội nhưng là cuộc HỘI NGỘ giao duyên.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Việc chế tài an táng theo nghi thức Giáo Hội Công Giáo

Quyển 6 của Bộ Giáo Luật 1983 quy định việc chế tài trong Giáo hội. Bài viết này chỉ đề cập đến việc 

chế tài về an táng theo Giáo luật trong tinh thần mới của Giáo huấn Giáo hội, đặc biệt trong tinh thần 

loan báo Tin mừng là niềm vui của Tông Huấn “Niềm Vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium) Đức Thánh 

Cha Phanxicô: “Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và toàn thể đời sống của những người gặp 

gỡ Chúa Giêsu. Những người để cho mình được Người cứu độ, được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn sầu, 

trống rỗng nội tâm và cô lập…….Tôi muốn khuyến khích các tín hữu Kitô giáo, để mời họ vào một giai 

đoạn mới của truyền giáo được đánh dấu bằng niềm vui trong khi chỉ ra những con đường mới cho 

cuộc hành trình của Hội thánh trong những năm tới.”

I. QUYỀN ĐƯỢC AN TÁNG THEO NGHI THỨC GHCG

1. Mọi Kitô hữu Công Giáo có quyền được an táng theo nghi thức GHCG.

Giáo hội tuyên bố một cách rõ ràng mọi Kitô hữu Công giáo qua đời phải được an táng theo nghi thức 

Công giáo phù hợp quy tắc luật phụng vụ của GHCG. Qua những nghi thức an táng, Giáo hội khẩn cầu 

ơn trợ giúp thiêng liêng cho những người quá cố, tôn kính thi hài của họ, và đồng thời đem lại niềm an 

ủi, hy vọng cho những người còn sống trong tang quyến vì mất một người thân yêu[1].

2. Những nghi thức an táng Công giáo

Người Ki tô hữu qua đời được cử hành nghi thức an táng trong nhà thờ giáo xứ của mình hoặc trong 

một nhà thờ khác[2]. Tuy nhiên, nghi lễ an táng Công giáo có thể được cử hành ở nhà tang, tại nhà 

thờ và ở nghĩa trang [3]:

Ở nhà tang có nghi thức tẩm liệm và canh thức cầu nguyện cho người qua đời.

Ở nhà thờ có Thánh lễ an táng và nghi thức phó dâng và từ biệt lần cuối cùng.

Ở nghĩa trang và nơi phần mộ gồm có: nghi thức làm phép mộ, cầu nguyện và hạ quan. Người tín hữu 

quá cố phải được an táng trong nghĩa trang riêng của giáo xứ hoặc trong một nghĩa trang khác[4].

II. NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢCC AN TÁNG THEO NGHI THỨC CÔNG GIÁO LA TINH

 1. Bộ Giáo luật 1917

Điều 1240 Bộ Giáo luật 1917 liệt kê một số trường hợp không được an táng theo nghi thức Công Giáo 

La Tinh:

1.1 Những người bội giáo khét tiếng, những người lạc giáo và ly giáo khét tiếng, những người thuộc 

Tam Điểm và những hiệp hội khác tương tự.

1.2 Những người bị vạ tuyệt thông hoặc cấm chỉ bởi một bản bản án được tuyên kết.

1.3 Những người phạm tội tự sát.

1.4 Những người chết trong một cuộc đấu kiếm hoặc đấu súng; hoặc bởi vết thương do những cuộc 

đấu đó gây ra.

1.5 Những người ra lệnh hỏa thiêu thi hài của họ.

1.6 Tất cả những tội nhân được biết công khai khác.

2. Bộ Giáo luật 1983

Theo bộ Giáo luật 1983, một số Ki-tô hữu Công giáo có thể không được an táng theo nghi thức GHCG 

La tinh[5], bao gồm bị từ chối bất cứ Thánh lễ an táng nào[6]. Ngay cả Thánh lễ công khai nhưng 

không có thân xác của người này hiện diện và các nghi thức liên hệ đến Thánh lễ an táng. Mặc dầu có 

thể dâng một Thánh lễ cầu hồn sau này, nhưng không được làm công khai khi nó có thể gây ra gương 

xấu. Hai điều kiện cần có và đủ để Giáo hội từ chối cử hành an táng theo nghi thức của Giáo hội:

+ nếu họ phạm một tội rõ ràng theo luật định.

+ nếu trước khi qua đời họ đã không biểu lộ dấu chỉ sám hối nào đó.

Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiều chi tiết hai điều kiện này.

2.1 Những trường hợp phạm tội theo luật định

Có ba trường hợp trong đó Ki-tô hữu thuộc GGCG La tinh có thể không được cử hành an táng theo 

nghi thức Giáo hội:

2.1.1 Những người lạc giáo, những người bội giáo và những người ly giáo hiển nhiên[7]. Nghĩa là tội 

của họ đã được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo hội tuyên bố công khai hoặc thực tế được 

nhiều người biết rõ ràng đến nỗi không ai có thể phủ nhận hoặc nghi ngờ. Nếu tội của họ chưa hiển 

nhiên thì việc từ chối cử hành an táng theo nghi thức của Giáo hội không thể được biện minh hợp 

pháp.

            + Người lạc giáo[8] là người Công giáo hoặc người Ki-tô hữu của các Giáo hội KTG khác được 

nhận vào GHCG, nhưng ngoan cố chối bỏ một chân lý phải tin với đức tin Công giáo được Thiên Chúa 

mặc khải, thí dụ mầu nhiệm Nhập thể hoặc mầu nhiệm Phục sinh….

            + Người bội giáo[9] là người chối bỏ một cách chủ ý, hiểu biết đầy đủ và ngoan cố toàn bộ 

đức tin Ki-tô giáo – không chỉ đức tin Công giáo.

            + Người ly giáo[10] là những người đã được rửa tội trong GHCG hoặc đã được nhận vào GHCG 

nhưng sau đó không liên kết và hiệp thông với những Ki-tô hữu khác trong cơ cấu hữu hình của GHCG 

qua việc tuyên xưng đức tin, lãnh nhận các bí tích và từ chối vâng phục Đức Giáo Hoàng[11].

Những người lạc giáo, bội giáo và ly giáo đã chối bỏ một phần hoặc tất cả tín điều Công giáo hay sự 

hiệp thông với Giáo hội; và làm như thế một cách hiển nhiên. Như vậy, thực tế, họ đã diễn tả ý không 

muốn cử hành an táng theo nghi thức Giáo hội. Giáo hội chỉ muốn tôn trọng ý muốn cá nhân của 

những người đã được rửa tội.

2.1.2 Những người đã chọn hỏa táng thi hài mình vì những lý do nghịch với đức tin Kitô giáo[12]. Thí 

dụ, một người đã chọn và di chúc cho gia đình hỏa táng thân xác của mình như một cách để chứng tỏ 

mình không tin vào giáo lý người chết sống lại của GHCG.

2.1.3 Những tội nhân hiển nhiên khác, mà việc an táng theo nghi thức Giáo Hội không thể không sinh 

gương xấu công khai cho các tín hữu[13].

            Trường hợp thứ ba này đòi hỏi hai điều kiện sau:

            2.1.3.1 Người này phải là một tội nhân rõ ràng: nhiều người biết đương sự đang sống trong 

một tình trạng tội nặng hoặc những vị chức trách có thẩm quyền của Giáo hội đã tuyên bố công khai 

cho nhiều người biết.

            2.1.3.2 Cử hành an táng theo nghi thức GHCG gây ra gương xấu công khai cho các tín hữu 

khác.

            Vì thế, nếu không có gương xấu; cũng như nếu tình trạng phạm tội không rõ ràng thì không có 

lý do nào để từ chối cử hành an táng theo nghi thức của GHCG.

Nếu hai điều kiện này được xác minh rõ ràng là có thật thì người này không được cử hành nghi thức an 

táng. Tuy nhiên để Linh mục xác định hai điều kiện này có thực không phải là một chuyện dễ dàng. 

Trong trường hợp có sự nghi ngờ, Linh mục phải hỏi ý kiến của Đấng bản quyền địa phương và theo 

phán quyết của ngài[14].

Những nhà chú giải Giáo luật cho rằng một số những tội nhân rõ ràng là[15]:

+ Một tội phạm đã phạm tội nặng công khai và khét tiếng, như là một trùm băng đảng buôn bán ma 

túy, cướp của, giết người khét tiếng.

+ Người là một thành viên công khai của một nhóm hoặc một tổ chức có mục đích chống đối, phê 

bình, chỉ trích GHCG như là những người trong phong trào đấu tranh cho việc phá thai, hôn nhân đồng 

tính….chỉ trích những lập trường và giáo lý của Giáo hội về những vấn đền này.

+ Người công khai theo những ý thức hệ vô thần chống lại Giáo hội.

2.2 Họ đã không biểu lộ dấu chỉ sám hối nào đó trước khi qua đời.

 Những người phạm tội kể trên chỉ bị từ chối cử hành an táng theo nghi thức GHCG khi họ không biều 

lộ dấu chỉ sám hối nào đó trước khi qua đời. Nếu họ đã có biểu lộ dấu chỉ sám hối thì Linh mục không 

thể từ chối. Dấu chỉ sám hối có thể là những dấu hiệu họ muốn hòa giải với Thiên Chúa và Giáo hội: 

như là mời Linh mục đến vào lúc giờ hấp hối; làm một hành động ăn năn tội cách trọn; hoặc nói ra ước 

muốn được chết trong tình trạng ân sủng…..trong Giáo hội Công giáo

            Một ngưởi chỉ làm một hành động chứng tỏ niềm tin vào Thiên Chúa thì không đủ trở thành là 

một dấu chỉ sám hối, vì ngay cả những người lạc giáo, bội giáo và ly giáo cũng tin vào Thiên Chúa[16].

            Nếu một người đã biểu lộ một dấu chỉ sám hối, hành động này cần được công khai hóa cho 

nhiều người biết để tránh gương xấu, sự hiểu lầm.

III. GIÁO HUẤN GIÁO HỘI

1. Thư của Thánh Bộ Đức Tin

Lá thư của Thánh Bộ Đức tin ngày 29. 5. 1973 nói rằng : “Việc cử hành nghi thức an táng của Giáo hội 

nên được ban dễ dàng hơn cho những người Công giáo trước đây đã bị từ chối bởi điều 1240 của Bộ 

Giáo luật cũ 1917………Căn cứ vào sự sắp xếp mới, việc cử hành những nghi thức an táng theo phụng 

vụ sẽ không còn bị cấm trong trường hợp của những người tín hữu, ngay cả khi họ ở trong một hoàn 

cảnh tội lỗi rõ ràng trước khi qua đời, đã duy trì lòng trung thành với Giáo hội và đã biểu lộ dấu hiệu 

hiển nhiên của lòng sám hối ăn năn. Một điều kiện cần thiết là không có gương xấu công khai cho 

những người tín hữu khác. Chúng ta sẽ có thể giảm được gương xấu như thế nếu các vị mục tử giải 

thích một cách hữu hiệu ý nghĩa của một đám tang Ki-tô giáo. Như thế đại đa số sẽ nhìn đám tang như 

là một lời kêu cầu lòng thương xót của Thiên Chúa và như là chứng tá của cộng đoàn Ki-tô hữu cho 

đức tin vào sự sống lại của kẻ chết và sự sống vĩnh cửu.”[17]

Vì vậy, ngày nay GH không từ chối cử hành nghi thức an táng những người sau đây: 

1/ Những người phạm tội tự sát[18]. Họ không tự động bị loại khỏi nghi thức an táng của GH, trừ khi 

chứng minh được một cách chắc chắn họ là những tội nhân công khai[19] và không có thể hiện một 

dấu chỉ sám hối trước khi chết. 

Giáo lý Công Giáo dạy rằng “việc quy tội và trách nhiệm cho một hành động nào đó có thể được giảm 

thiểu và thậm chí được loại bỏ vì lý do không biết, không chú ý, do áp lực, do sợ hãi, do thói quen, do 

quá gắn bó, và các nguyên nhân khác về tâm lý và xã hội.”[20] Điều 1321 §1 quy định: “Không ai bị 

trừng phạt, nếu việc vi phạm luật hay mệnh lệnh bên ngoài không thể quy trách cho người đó cách 

nằng nề do cô tình hay do lầm lẫn.” Điều 1323 còn miễn chế tài trong một số trường hợp hoặc Điều 

1324 giảm nhẹ hình phạt nếu phạm tội trong một số trường hợp được xác định. Những người phạm tội 

tự sát thường là những người đang sống trong những khủng hoảng tâm lý, xã hội, bệnh tật (bệnh 

Trầm cảm)…….đến nỗi họ tuyệt vọng và coi cái chết là con đường duy nhất để giải thoát họ khỏi 

những khủng hoảng này. Họ không có đủ ý thức và tự do trong hành động tự sát, vì thế việc quy tội và 

trách nhiệm cho tội tự sát của họ có thể được giảm thiểu và thậm chí bị loại trừ.

2/ Những người đã sống trong hôn nhân không thành sự và bất hợp pháp.[21]

 Hiện nay, họ không được lãnh nhận Bí tích Hòa giải và Thánh thể, nhưng họ không bị tách lìa khỏi 

Giáo hội. Giáo hội vẫn yêu thương, săn sóc và mời gọi họ tham dự Thánh lễ, cầu nguyện và tham gia 

đời sống loan báo Tin mừng của Giáo hội…..[22] Thực tế nhiều người trong họ tuy sống trong tình 

trạng hôn nhân bất hợp pháp, họ vẫn trung thành với GH và tham dự các việc thờ phượng chung như 

thánh lễ và tham gia các hoạt động mục vụ của Giáo hội. Nhiều người ở trong tình trạng hôn nhân bất 

hợp pháp không thể giải gỡ rất đau buồn và thiết tha được thoát khỏi tình trạng này. Các mục tử và 

cộng đoàn Ki-tô giáo phải tỏ ra ân cần quan tâm đến họ.

Những người này được cử hành an táng theo nghi thức của Giáo hội sau khi qua đời. Vì việc không cho 

họ được cử hành nghi thức an táng của Giáo hội gây nhiều gương xấu hơn là cử hành nghi thức an 

táng cho họ.

2. Tông huấn “Niềm vui của Tin Mừng” của Đức Giáo hoàng Phanxicô

 Giáo hội quan tâm đến việc loan lòng thương xót của Thiên Chúa cho mọi người như lời dạy của Đức 

Thánh Cha Phanxicô trong số 43 của Tông Huấn “Niềm vui của Tin Mừng”  ngày 24.11.2013:

            “Có những luật lệ giới răn của Hội thánh có thể rất hiệu quả ở những thời đại khác, nhưng 

không còn sức mạnh tương tự như trong việc giáo dục đời sống. Thánh Thoma Aquino đã nhấn mạnh 

rằng những giới luật được Đức Ki-tô và các Tông đồ ban cho Dân Thiên Chúa thì ‘rất ít’. Ngài lưu ý 

rằng “những giới luật được thêm vào  bởi Hội Thánh phải đòi hỏi một cách vừa phải để ‘không là gánh 

nặng cho đời sống của các tín hữu’ và biến tôn giáo của chúng ta thành một hình thức nô lệ, trong khi 

‘lòng thương xót của Thiên Chúa muốn nó được tự do.’[23] Ngài kêu gọi các cánh cửa  của các Bí tích 

cũng không được đóng lại vì bất cứ lý do nào: ‘Chúng ta thường hành xử như những người ban phát 

ân sủng chứ không như những người giúp người khác dễ dàng lãnh nhận ân sủng. Nhưng Hội thánh 

không phải là một hải quan, mà là ngôi nhà của Chúa Cha, ở đó có chỗ cho tất cả mọi người, với tất cả 

những khó khăn trong cuộc sống của họ.’”[24]

Kết luận

Có ba điều kiện cần để một Linh mục có thể từ chối cử hành an táng một người Công Giáo theo nghi 

thức GHCG (x. Điều 1184§1):

+ Người này đã phạm tội rõ ràng theo luật định. Tuy nhiên Giáo lý Công Giáo dạy rằng việc quy tội và 

trách nhiệm cho một hành động của họ có thể được giảm thiểu và thậm chí được loại bỏ vì một lý do 

hợp pháp như đã trình bày.[25]

+ Trước khi qua đời họ đã không biểu lộ dấu chỉ sám hối nào đó.

+ Cử hành an táng theo nghi thức GHCG gây ra gương xấu công khai cho các tín hữu khác. Nếu không 

gây gương xấu thì Linh mục không thể từ chối cử hành an táng cho họ theo nghi thức của Giáo hội.

Vì thế, để từ chối cử hành nghi thức an táng cho một người Ki-tô hữu Công giáo đã qua đời, các mục 

tử cần xem xét quy định của Bộ Giáo luật 1983 và tinh thần mới của Giáo huấn Giáo hội. Ngõ hầu nghi 

thức an táng trở thành một phương thế loan báo Tin mừng trong niềm vui, khẩn cầu ơn trợ giúp thiêng 

liêng cho những người quá cố, và đồng thời đem lại niềm an ủi, hy vọng cho những người trong tang 

quyến vì mất một người thân yêu.

                                                                                               

Lm. Ga. Trần Trọng Dung

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

9 CÁCH NÓI CHUYỆN VỚI TUỔI TEEN

Việc duy trì giao tiếp cởi mở với con tuổi teen là điều bố mẹ cần làm hàng ngày. Hãy thử những gợi ý dưới đây:
Hãy nói về những chuyện nho nhỏ
Mở cánh cửa giao tiếp với con trước khi có bất cứ chuyện gì là cách tốt nhất để ngằn ngừa mọi chuyện. Bọn trẻ có thể nhìn chỗ khác hoặc làm việc khác như thể chúng không nghe thấy, nhưng hãy tiếp tục. Thậm chí chỉ một tỉ lệ nhỏ thông hiểu nhau cũng là một nỗ lực đáng giá.
Hãy tâm sự về về những điều quan trọng
Hãy thảo luận với con về chuyện tại sao bạn không muốn con uống rượu. Không chỉ nói về cách uống như thế nào trong buổi tiệc, mà còn đề cập đến những hậu quả lâu dài như uống khi đang mang bầu, lái xe khi vừa uống xong… Con chắc chắn sẽ hỏi Tại sao, và hãy tận dụng câu hỏi đó để thực hiện tiếp mục đích [giáo dục] của bạn.
Thể hiện tình cảm
Cả bạn và con có thể đều ngại với những cái ôm thân mật. Thế còn ánh mắt, nụ cười trìu mến khi con về nhà, giọng nói nhẹ nhàng khi nói chuyện thì sao? Cảm nhận được yêu thương có thể giúp con vượt qua được những khó khăn.
Đề ra quy tắc
Những nguyên tắc có lý là tốt cho con đang tuổi teen và cho con ý thức về những kỳ vọng  của bố mẹ. Khi bạn đang thực hiện điều đó, hãy giải thích cho con hiểu vì sao cần những quy tắc nhất định và hậu quả sẽ thế nào nếu phá vỡ chúng.
Chú ý đến những gì con nói
Đôi khi thật dễ dàng để nghe con nói chuyện, nhưng để hoàn toàn hiểu được con đang nghĩ gì và phải đối mặt với chuyện gì, thì phải lưu tâm đến mọi từ ngữ con nói như những “đầu mối” có thể giúp ta hiểu được con thực sự đang trong tình trạng như thế nào.
Chú ý những gì con làm
Theo sát những hành vi của con không phải là “gián điệp”, đây là một phần của việc giáo dục con. Còn ai có thể tốt hơn để theo dõi và can thiệp giúp con lúc cần thiết hơn là bố mẹ - những ngườiyêu thương con nhất?
Cùng nhau ăn bữa tối
Dù bận đến đâu cũng phải chia sẻ thời gian ăn tối với nhau ít nhất 3 lần một tuần. Đó không phải là chuyện muốn hay không muốn, mà nó phải thế để có thể thiết lập sự chia sẻ giữa bạn và con mình.
Chia sẻ niềm vui chung trong gia đình
Cũng giống như ăn bữa tối cùng nhau, khi cả gia đình cùng chia sẻ niềm vui, điều đó có thể giúp cha mẹ theo sát được tình hình của con. Khi con có thể quay về với cha mẹ để có niềm vui, điều đó có thể giúp con tránh tìm thú vui trong những điều có hại.
Thể hiện sự tôn trọng
Thể hiện rằng bạn tôn trọng con. Hãy dành cho con thật nhiều những cuộc nói chuyện mà trong đó không có những từ ngữ nóng nảy, không có chỉ trích  và có những hành vi mẫu mực mà bạn muốn thấy từ con.
Hoài Phương
Theo kidactivities
Yeutretho/ Seatimes

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Khi tuổi teen... trở chứng

Tuổi teen, giai đoạn không còn là con nít nhưng chưa đủ tiêu chuẩn làm... người lớn, cậu con trai, cô con gái bình thường hết sức dễ thương, ngoan ngoãn của bạn bỗng... trở chứng.
Từ một người bạn nhỏ thân thiết của cha mẹ, cô, cậu trở thành kẻ đối nghịch ngay trong chính gia đình của mình.
Các nhà chuyên môn đã có chung nhận xét: Đây là giai đoạn khó khăn nhất của các bậc cha mẹ. Họ tin rằng các cô cậu choai choai đã sử dụng năm "mánh khóe" dưới đây để khiêu khích đấng sinh thành, như cách phản đối người đang "áp bức" tinh thần lối sống các cô cậu. Hiểu được năm "mánh khóe" này chúng ta sẽ biết cách đối phó, đương đầu với đứa con nổi loạn tuổi teen.
1. Gây chú ý: Nhuộm tóc đủ màu, đeo hai ba chiếc khoen mũi, khoen tai, mở nhạc thật lớn là những cách mà các cô cậu tuổi teen làm nhằm lôi cuốn sự chú ý của cha mẹ. Vài cô cậu quyết định chẳng thà bị cha mẹ la mắng còn hơn là không được ngó ngàng và nói chung, chúng rất thích "lôi cuốn sự chú ý" kiểu này.
Theo các nhà tâm lý, mười năm qua là thời gian trải nghiệm, nhận biết, tò mò, khám phá và xác định tính cách của con trẻ. Thử thách của cha mẹ lúc này là nhận ra sự trưởng thành về mặt thể xác, tâm lý của con và bắt đầu tôn trọng nhu cầu thay đổi của chúng.
Biện pháp đúng: Thường xuyên nói với con là bạn yêu thương chúng, đừng cằn nhằn, đay nghiến về những chuyện lặt vặt như ăn mặc "chướng mắt", phòng ốc bừa bãi...
Tuy nhiên, nếu "kỹ thuật" gây chú ý của chúng liên quan đến an toàn bản thân, chẳng hạn như ở lại đêm nhà bạn hoặc lên xe với một người bạn đang say khướt, bạn cần phải cứng rắn. Nếu thái độ, hành vi gây chú ý của con bao hàm sự nguy hiểm, hãy bình tĩnh ngồi xuống nói chuyện dù bạn đang muốn la mắng chúng một trận ra trò.
Hãy nói và giải thích cho chúng hiểu bạn muốn chúng độc lập nhưng có những điều cha mẹ cần quan tâm và đó là điều bình thường. Hãy chứng tỏ cho chúng biết bạn thông cảm và tôn trọng nhu cầu độc lập của con nhưng bạn muốn chúng luôn được an toàn.
2. Luôn phản đối, kháng cự cha mẹ: Mỗi yêu cầu cha mẹ đưa ra trở thành một cuộc đấu trí. Bắt chúng làm bài tập, chúng vào phòng vặn nhạc tưng bừng. Bảo chúng rửa chén bát sau bữa ăn, chúng thản nhiên ngồi coi ti vi.
Phản ứng hoặc áp dụng biện pháp mạnh không làm giảm sự xung đột và chẳng giải quyết được gì. Các bậc cha mẹ thường muốn chứng tỏ quyền làm cha mẹ của mình bằng cách mắng chửi, "lên lớp", hăm he thậm chí trấn áp sự nổi giận của con cái.
Biện pháp đúng: Tranh giành quyền lực là điều không tránh khỏi và thay vì cãi cọ, la mắng, hãy thảo luận với con. Trong thâm tâm bạn muốn bảo vệ con nhưng nếu bạn kiềm chế, kiểm soát thái quá, vô tình bạn đã làm quan hệ giữa mình và con cái xấu đi.
Cương quyết, cứng rắn đối với sự an toàn của con nhưng mặt khác, bạn cũng cần nhường nhịn và cho phép chúng phạm một vài lỗi lầm dù đó là điều mà người làm cha mẹ khó chấp nhận. Trong những lúc vui vẻ, hòa thuận, hãy nói với con về những đề tài khiến mẹ con "xung đột" và tìm hiểu nguyên nhân.
Bạn có thể đưa ra vài cách giải quyết và cùng con chọn cách giải quyết nào hay nhất, hiệu quả nhất. Đây là cách dạy cho chúng hiểu rằng không phải lúc nào mẹ con cũng cãi nhau mà có thể nói chuyện với nhau một cách ôn hòa, thông cảm. Bạn có thể không đồng ý với con và ngược lại nhưng bạn không cần phải nổi giận.
3. Nói năng hỗn xược: "Con chưa thấy ai tệ hơn mẹ", "Mẹ làm con mất mặt với bạn bè", "Mẹ chẳng làm được cái gì cả". Những lời lẽ hỗn xược đó có thể được thốt ra từ miệng đứa con tuổi teen của bạn và làm bạn "nhức nhối". Chưa hết, chúng đe sẽ làm những điều chúng biết chắc bạn sợ hãi: Bỏ nhà ra đi, bỏ học...
Biện pháp đúng: Theo các nhà tâm lý, các cô cậu teen thường đưa ra những lời lẽ thù hằn hoặc có thái độ thù nghịch khi cảm thấy bị cha mẹ coi thường. Trong trường hợp này, tôn trọng là biện pháp giải quyết.
Tuổi teen thường rất nhạy cảm, dễ tổn thương. Chỉ cần nhìn thái độ, cử chỉ của cha mẹ, chúng hiểu cha mẹ không lắng nghe chúng. Chúng thường diễn dịch sự bận rộn của cha mẹ trong đời sống hàng ngày là bỏ bê, không quan tâm đến con cái.
4. Chán chường, lười biếng: Uể oải, lừ đừ, kém năng động là hình thức nổi loạn ưa thích nhất của tuổi teen. Chúng không muốn đi ra ngoài với bạn bè, cũng không thích chơi đá banh, ném bóng chuyền hoặc ôn bài vở khi ngày thi sắp đến.
Giai đoạn "xì hơi" này cũng chỉ là một phần bình thường trong tiến trình phát triển của tuổi teen. Các cô cậu cần thời gian riêng nhưng lại không làm gì cả. Sự phát triển của cơ thể, môn thể thao bắt buộc của nhà trường và, có thể, việc làm phụ để kiếm thêm tiền túi khiến chúng mệt mỏi. Chúng đang cần được ngủ nhiều hơn, ăn nhiều hơn để lấy lại năng lượng và mất đi vẻ mệt mỏi, bạc nhược.
Bắt đầu có những thay đổi về sinh lý!
Biện pháp đúng: Nếu thời kỳ lừ đừ, lười lĩnh này kéo dài quá kèm theo không hoạt động, học sút, tránh né bạn bè, có lẽ bạn phải cần đến lời khuyên chuyên môn để giúp con.
Cha mẹ thường băn khoăn, khổ sở khi thấy con cái có biểu hiện khác thường. Hãy đến trường của chúng tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra đưa đến tình trạng đó. Hỏi bạn bè chúng để biết phải chăng có điều gì bất thường trong nhóm bạn vẫn chơi chung với chúng. Nếu chỉ là sự lười biếng, bê trễ bình thường, đừng la mắng mà hãy khuyên con nên ngủ sớm, ăn nhiều là đủ.
5. Đua đòi bạn bè: Tuổi này, một số cô cậu cảm thấy cần phải nếm thử "yêu sớm", rượu, thuốc lá... để bằng anh bằng em với chúng bạn.
Biện pháp đúng: Cần giải thích và vạch ra cho con thấy những áp lực và mong đợi vô lý từ bạn bè và nêu những điều này có ảnh hưởng đến sự an toàn của chúng, bạn cần phải cứng rắn. Đôi khi chúng không biết được những nguy hiểm tiềm ẩn trong vài trường hợp do bạn bè đặt ra. Dạy chúng nhận ra những điều đó là cách giúp con cái hữu hiệu.
Ngoài ra cha mẹ cũng cần đóng vai trò gương mẫu đối với rượu và thuốc lá nếu muốn con không tập thói quen này. Hãy lợi dụng mọi cơ hội để nói về đề tài an toàn tình dục bất cứ khi nào có thể. (chẳng hạn nhân lúc cả nhà đang xem một đoạn phim chiếu cảnh "nhạy cảm").
Nguồn: http://www.tinmung.net

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

KỶ LUẬT KHÔNG NƯỚC MẮT

https://www.youtube.com/watch?v=JTKLZA-Tb0Y
https://www.youtube.com/watch?v=67SWTNgtF4k
https://www.youtube.com/watch?v=-7t5_e1biak
Kỷ luật vẫn thường bị liên tưởng với trừng phạt. Một số nền văn hóa ủng hộ đòn roi, nhưng cũng nhiều quốc gia phản đối trừng phạt thể chất. Đòn roi được xem là có thể dẫn đến những thay đổi tiêu cực, khiến trẻ cảm thấy xấu hổ và mất lòng tin. Trong khi đó kỷ luật lành mạnh và công bằng giúp trẻ trưởng thành cả về cảm xúc và nhận thức.
Trái với hình thức trừng phạt (ghi nhận hành vi tiêu cực) là biện pháp củng cố hành vi tích cực, dùng lời khen để động viên mỗi khi trẻ làm điều tốt. Phương pháp này nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn, giúp khuyến khích các hành vi tốt trong tương lai. Hãy ghi nhận những việc làm tốt của trẻ và động viên con kịp thời. Tất nhiên, đôi khi trừng phạt vẫn là cần thiết, nhưng nếu sử dụng quá mức biện pháp này có thể khiến trẻ cảm thấy lo lắng, bất lực hay bực bội.
Kỷ luật theo từng giai đoạn
Nuôi dạy con là hành trình đầy thách thức và đòi hỏi sự kiên nhẫn. Ngay từ thời kỳ sơ sinh, cha mẹ đã có thể đặt ra khuôn khổ phù hợp để luyện cho con khả năng thích nghi với hoàn cảnh. Một số giai đoạn phát triển đòi hỏi hình thức kỷ luật cao hơn, như khi tập cho bé ăn, đi vệ sinh hay lên giường đi ngủ… Kỷ luật phải được xây dựng trên nền tảng yêu thương, tin cậy, tôn trọng và phù hợp với giai đoạn phát triển của trẻ.
phat-tre-2607-1407904077.jpg
Ảnh minh họa: Preschooler.thebump.com.
Sơ sinh đến 1 tuổi:
Trẻ nhỏ thường thích ứng tốt với hoạt động quen thuộc, diễn ra theo lịch trình. Lúc này có thể tập cho con thói quen sinh hoạt đúng giờ giấc.
Khi bé lớn hơn, bạn có thể giúp con học kiểm soát cơn cáu giận bằng cách không bế con ngay khi bé khóc.
Lớn hơn nữa, hãy để con tự ru mình vào giấc ngủ. Điều này giúp bé tự xoa dịu cảm xúc.
1-2 tuổi:
Đây là lúc trẻ bắt đầu thể hiện ý muốn của mình. Bạn cần kiên nhẫn, kỷ luật ở giai đoạn này có thể giúp con tránh được tai nạn và hạn chế những lời nói hay hành động thô bạo.
Vì trẻ chưa đủ lớn để hiểu những lời chỉ dẫn đơn giản, hãy vừa nói vừa minh họa bằng hành động. Ví dụ, nếu bé chạm vào đồ vật dễ vỡ trên giá, hãy nói “Không” với thái độ cương quyết. Sau đó, đưa con sang phòng khác hay cho bé chơi thứ gì khác. Hãy ở bên con để bé không thấy sợ vì bị bỏ rơi.
2 - 3 tuổi:
Giai đoạn này được gọi vui là thời kỳ "hãi hùng bé lên 2". Trẻ vật lộn để dành tự do và nổi cáu khi nhận ra mình bị hạn chế. Điều này có thể dẫn tới những cơn nóng giận khủng khiếp. Một lần nữa, cha mẹ cần bình tĩnh quan sát và đặt ra những khuôn khổ cần thiết.
Các chỉ dẫn đơn giản bằng lời sẽ không đủ mạnh. Sau mỗi lời chỉ dẫn bạn cần đưa con tới chỗ khác hoặc làm mẫu về cách hành xử mong đợi.
3-5 tuổi:
Trẻ đáp ứng tốt với mệnh lệnh cương quyết và việc làm gương. Bé có thể dễ dàng làm theo chỉ dẫn và học theo cách cư xử của cha mẹ, thầy cô. Khen ngợi khi bé làm việc tốt để khuyến khích và củng cố hành vi này.
Có thể áp dụng biện pháp phạt "Time-out" nếu bé mất kiểm soát.
Phạt Time-out
Sự chú ý của cha mẹ, kể cả dưới hình thức phạt, cũng có thể trở thành phần thưởng đối với bé. Kết quả là trẻ sẽ tái phạm để được chú ý. Phương pháp time-out tước đi sự chú ý này, khiến trẻ giảm bớt mong muốn lặp lại hành động không đúng.
Khi time-out, trẻ bị cách ly tạm thời với môi trường nơi diễn ra hành vi không phù hợp. Cha mẹ có thể chọn cho con một chỗ ngồi yên tĩnh, chẳng hạn một chiếc ghế ở góc phòng, một chiếc thảm nhỏ, một bậc thang…
Time-out cần được cha mẹ thực hiện một cách kiên trì, không biểu cảm. Khu vực này phải hoàn toàn yên tĩnh, không có bất kỳ vật dụng gì bên cạnh và tránh xa những phiền nhiễu như TV, máy tính, hay các trò giải trí khác. Thời gian time-out bằng với tuổi của trẻ (chẳng hạn bé 3 tuổi cần thời gian time-out 3 phút) và tối đa là 5 phút. Có thể thực hiện nhiều lần time-out mỗi ngày.
Đặt đồng hồ đếm ngược bên cạnh. Nói rõ thời gian con phải ngồi ở khu vực time-out và chỉ rõ vì sao con bị phạt, chẳng hạn: “Con sẽ phải ngồi một mình ở đây 3 phút vì đã đánh chị”. Hãy phớt lờ trẻ, tuyệt đối không lên lớp hay giải thích gì với con khi time-out. Sau khi kết thúc thời gian phạt, hãy thay đổi không khí và cư xử với bé như bình thường. Đừng đả động gì đến lỗi của con, cứ coi như chưa có chuyện gì. Time-out sẽ không giúp chấm dứt hoàn toàn các hành vi sai trái của trẻ nhưng có thể khiến chúng ít xảy ra hơn.
6-12 tuổi
Trong giai đoạn này, con bạn trở nên độc lập hơn. Trẻ dành nhiều thời gian cho bạn bè và việc học hành. Cha mẹ có thể giám sát, làm gương và cương quyết khi áp dụng các biện pháp kỷ luật.
Hình thức kỷ luật phù hợp bao gồm cắt hoặc trì hoãn một số quyền lợi (ví dụ không internet hoặc không TV trong một ngày), phạt time-out và áp dụng hệ quả.
Nếu có thể, hệ quả phải "logic" hoặc "trung tính". Ví dụ về hệ quả logic: “Con cư xử như đang rất mệt, vì vậy tối nay con sẽ đi ngủ sớm hơn 30 phút”. Ví dụ về hệ quả trung tính: Cứ để 2 bàn tay bị lạnh một chút nếu con không chịu đeo găng tay (nhưng vẫn mang găng tay bên mình).
Giải thích rõ cho con về nguyên tắc kỷ luật. Nếu trẻ tái phạm, hãy cảnh báo trước về hệ quả logic của sai phạm này trước khi áp dụng.
Giữ sự uy nghiêm với con trẻ, tránh việc nói suông vì điều này khiến trẻ "nhờn". Chẳng hạn, nếu bạn nhắc con đi ngủ sớm nhưng đến giờ con vẫn không lên giường và bạn không có hành động gì thì những lần nhắc nhở tiếp theo sẽ chẳng mấy giá trị.
13-18 tuổi
Tăng cường trò chuyện, chia sẻ với con. Luôn bên con và sẵn sàng giúp đỡ khi con cần. Cư xử công bằng nhưng kiên định. Không xem nhẹ hay trầm trọng hóa các vấn đề. Tránh "lên lớp" hoặc dự đoán về những điều tồi tệ.
Đưa ra thỏa thuận miệng với con, kiểm tra sát sao việc tuân thủ các giao kèo cơ bản và đặt ra hệ quả logic. Ví dụ, nếu con làm hỏng xe, hệ quả sẽ là con phải bỏ tiền ra sửa. Điều này dạy trẻ biết chịu trách nhiệm cho hành động của mình.
Cách đưa ra nguyên tắc và áp dụng hệ quả
- Khen ngợi các hành vi tích cực khi có thể.
- Tránh dọa dẫm suông mà không áp dụng hệ quả.
- Kiên trì với các biện pháp kỷ luật.
- Bỏ qua những sai phạm không quá quan trọng.
- Đặt ra giới hạn hợp lý.
- Chấp nhận hành vi phù hợp với lứa tuổi.
- Áp dụng hệ quả tức thì với trẻ nhỏ.
- Cố gắng tỏ ra "vô cảm" khi áp dụng hệ quả.
- Không la mắng, hò hét con.
- Bày tỏ tình yêu và sự tin tưởng với trẻ sau khi áp dụng hệ quả. Như vậy con sẽ hiểu việc cha mẹ làm là nhắm tới hành vi không mong muốn chứ không phải bản thân trẻ.
Lê Mai (Theo About Kids Health)

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS