Được tạo bởi Blogger.

Giới thiệu về tôi

Blogger templates

RSS

Pages

Kịch bản Canh thức Giáng sinh - NGÀI ĐÃ BỊ KHƯỚC TỪ

Kịch bản Canh thức Giáng sinh 2011


NGÀI ĐÃ BỊ KHƯỚC TỪ
I. LỜI HIỆU TRIỆU:  (Linh mục quản xứ) :
Anh chị em thân mến, đêm nay, cộng đoàn chúng ta long trọng cử hành đại lễ Giáng Sinh  lễ Giáng Sinh lần thứ 2011. Trong đức tin và trong ý thức phụng vụ, chúng ta cảm nhận sâu sắc rằng : Phụng vụ lễ Giáng Sinh đang làm sống lại giữa chúng ta một khúc quanh quan trọng trong chiều dài lịch sử của nhân loại : đó chính là biến cố  “Ngôi Hai Thiên Chúa Giáng Trần”, một biến cố quyết định trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa để hiện thực hóa tình yêu vĩnh hằng của Ngài dành cho toàn thể nhân loại : “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nổi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16)
            Cho dù đứng trước một thế giới vẫn còn bao dang dở và bóng tối, vẫn còn phải từng ngày vật lộn với khổ đau, chiến tranh, bạo lực và tội ác, sứ điệp bình an và niềm vui của Đêm Giáng Sinh vẫn vang lên như tiếng chuông ngân loan báo niềm hy vọng cho một thế giới mới, thế giới của an bình và công lý mà các Sứ ngôn đã loan báo trước mấy ngàn năm. Nhưng trong đời sống cuả mỗi người chúng ta hôm nay, chúng ta có sẵn lòng đón nhận Thiên Chúa hay là bằng cách này, cách khác chúng ta đã chối từ Ngài. Trong đêm cực Thánh này chúng ta cùng lắng lòng mình và cùng chiêm nghiệm có khi nào mình chối Chúa qua chương trình Diễn Nguyện Canh Thức với nội dung “NGÀI ĐÃ BỊ KHƯỚC TỪ”
·        Hoạt cảnh:   Sám hối.
Lời Dẫn: Như cột mây che nắng ban ngày, như cột lửa soi đường ban đêm trong sa mạc của buổi lang thang trên đường về Đất Hứa, bàn tay Thiên Chúa vẫn tiếp tục che chở dẫn dắt   chúng ta...Thế nhưng, đã biết bao lần, chúng ta lại không nhận ra quyền năng và tình thương vô biên ấy. Chúng ta bất trung phản bội, chối bỏ Ngài....... và từ đó tội lỗi đầy tràn, khổ đau chồng chất, lầm than nối tiếp lầm than trên từng cây số lịch sử của chúng ta….Chính trong cảnh cùng khốn của kiếp lưu đầy, nô lệ, chúng ta giang tay khẩn cầu,mong chờ Đấng Cứu Tinh đến giải thoát chúng ta, giải thoát khỏi tăm tối lầm than, khỏi nô lệ tù đày, khỏi cả hận thù chiến tranh, khỏi luôn đam mê lầm lạc...( Diễn cảnh đoàn người lầm than, đói rách, bị đánh đập...)
Muá sám hối
Hoạt cảnh : TRUYỀN TIN
v     Lời Dẫn : Ở giữa muôn vạn người công chính trong những ngàn năm mong đợi của cựu ước ấy, Thiên Chúa đã chọn một Trinh Nữ khó nghèo, sống ẩn khuất giữa một làng quê miền bắc nước Do Thái, Trinh Nữ Maria làng Na-da-rét, để cọng tác với Ngài trong công trình Nhập Thể của Đấng Cứu Thế. Vâng, Đức Trinh Nữ Maria, người con duy nhất của nhân loại, đã được Thiên Chúa đoái thương chúc phúc ngay từ buổi đầu thai với đặc ân “Vô nhiễm nguyên tội”, để dọn đường cho Mẹ dấn thân vào một hồng ân cao cả hơn đó là được “Làm Mẹ Thiên Chúa”. Để cảm nhận sâu xa biến cố quan trọng nầy, chúng ta hãy sống lại những giây phút rạng ngời thánh thiêng của biến cố Truyền Tin, một biến cố mang tính quyết định trong tiến trình thực hiện chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.
            ( Maria đang quì cầu nguyện và Thiên Thần xuất hiện )
Thiên Thần : Kính chào Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà.  
Lời Dẫn Nghe lời ấy, Maria hoảng sợ và tự hỏi, không biết lời chào như vậy có ý nghĩa gì.
( Lúc này Maria diễn tả sự hoảng sợ và lo lắng )
Thiên Thần : Maria đừng sợ, vì Bà đã được nghĩa với Chúa, này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu, Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Đấng Tối Cao, Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavit tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacob và triều đại Người sẽ vô tận.
Lời Dẫn : Nhưng Maria thưa với thiên thần.
Maria Việc đó xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến người nam.
Thiên Thần : Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà, và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà, và Đấng  mà Bà sinh sẽ là Đấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa, và này Isave, chị họ Bà cũng đã thụ thai trong lúc tuổi già và nay mang thai đã được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ, vì không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được.
Lời Dẫn : Maria liền thưa.
Maria : Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.
Lời Dẫn : Và Thiên Thần cáo biệt Maria.
( Thiên Thần vẫy tay chào và đi vào )
Lời dẫn : Hai tiếng " Xin vâng" thật êm dịu nhẹ nhàng và khiêm tốn, đầy can đảm và thánh thiện của Maria, chứng tỏ rằng sự quyết định của Mẹ nằm trong tâm tình phó thác, nhờ đó mà ngày nay chúng ta được hưởng nhờ nguồn ơn cứu rỗi
(Khi người hướng dẫn đọc những lời này thì Maria đi vào )
Mua truyền tin
v     Lính : (  xuất hiện và thổi loa )…
Nghe đây, nghe đây : Hỡi toàn dân Do Thái và tất cả các dân tộc dưới quyền thống trị của hoàng đế, hết thảy hãy nghe đây, nghe đây. Chiếu theo sắc lệnh của hoàng đế ban ra cho tất cả những người dân trong đế quốc, bất cứ ai đang ở xứ nào, nước nào, hãy trở về quê quán mình để ghi tên kiểm tra dân số. Ai ngoan cố bất tuân sẽ bị nghiêm trị theo hình luật đã định (thổi loa )…nghe đây, nghe đây ( lập lại lần nữa )
"Ngài đã đến trong nhà Ngài ,
Nhưng người nhà đã khước từ Ngài" ( Ga 1,11 )
                          Cộng đoàn hát: Ngài đến, lòng chúng nhân...
Hướng dẫn:     Hôm nay chúng ta họp nhau lại nơi đây để chia sẻ niềm vui Giáng Sinh. Chúng ta hát với nhau những lời phấn khởi: Ngài đến, lòng chúng nhân reo hò, vui mừng... Rồi chúng ta nhớ lại năm xưa, khi Ngài sinh ra, các tầng trời cũng đã vui mừng reo hò. Thế nhưng, giữa lòng dân tộc Ngài, thì chẳng có gì xảy ra cả. Ngài đến, thế mà lòng chúng nhân chẳng vui chẳng mừng mảy may, trái lại là đàng khác. Bởi thế nên Thánh Gioan đã viết: "Ngài đến trong nhà Ngài, nhưng người nhà đã không tiếp nhận Ngài". Chúng ta hãy thử nhớ lại một trong muôn vàn người nhà đã từng khước từ Ngài... ( Chủ quán cầm một túi tiền to đi ra... )
Chủ quán:        Này bà ơi, mọi việc xong chưa ? Ra đây tôi nói chuyện một chút.
Vợ chủ quán:   Ông gọi tôi đấy à ?
Chủ quán:        Bà đã rỗi chưa ?
Vợ chủ quán:   Tôi còn phải rửa một đống chén bát đây !
Chủ quán:        Thôi, để cho đầy tớ nó rửa... Bà ngồi đây. Tôi đã dặn bà là đừng nhúng tay vào, nếu chuyện gì bà cũng làm, thì mình thuê người giúp việc làm gì nữa ? Với lại, phải biết chuyện gì quan trọng và chuyện gì không quan trọng chứ... phải dành thì giờ cho kinh nguyện nữa chứ !
Vợ chủ quán:   Vậy ông bảo tôi ra đây làm gì ?
Chủ quán:        Này, bà đếm xem, hôm nay chúng ta thu được bao nhiêu ? ( Ông đưa túi tiền cho bà vợ đếm, rồi vào lấy bộ Kinh Thánh ra... ) Thôi, mình nhanh tay lên nhé, vừa đếm vừa nghe tôi đọc Kinh Thánh, xong rồi còn đi ngủ sớm. ( Ông đọc: Đnl 14, 2 ) "Anh em là một dân thánh hiến cho Giavê, Thiên Chúa của anh em. Đức Chúa đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người..." ( Nói ) Ơ này, nhìn cái gì thế ? đếm tiền đi chứ !
Vợ chủ quán:   Tôi nghe ông đọc Lời Chúa.
Chủ quán:        Bà hãy nghe bằng tai, còn mắt và tay thì cứ đếm tiền, không thì nhầm đấy ! ( Đọc tiếp: Đnl 15, 10 ) "Anh em phải cho họ một cách rộng rãi, và khi cho thì đừng miễn cưỡng. Thật vậy, vì việc đó, Giavê, Thiên Chúa của anh em sẽ chúc phúc cho anh em trong mọi việc anh em làm, và mọi công trình do tay anh em thực hiện... " ( Quay sang vợ hỏi ) Bao nhiêu tiền ?
Vợ chủ quán:   Độ 18 nén.
Chủ quán:        Độ nghĩa là sao ?
Vợ chủ quán:   Còn một ít tiền lẻ tôi chưa đếm.
Chủ quán:        Đếm hết đi... ( Đọc tiếp Đnl 14, 22 ) "Mỗi năm anh em phải trích một phần mười tất cả hoa lợi lấy từ... " ( Nói một mình ) Thu vào 18 nén... như vậy là được 10 nén hoa lợi. Này bà, nhớ để riêng ra hôm nay một nén đấy nhé ! Chúng ta phải phụng sự Chúa cho đúng mức. Chà, một ngày một nén, bà nghĩ xem, với cái đà này, năm nay chúng ta sẽ phải nộp hơn 300 nén. Mấy thầy Lêvi và dân chúng thấy ta nộp nhiều như vậy thì... ghi công chúng ta phải biết.
Vợ chủ quán:   Sao ông lo xa thế ?
Chủ quán:        Không lo xa sao được ? Tôi đã nói với bà là việc giữ lề luật... đôi khi... còn quan trọng hơn là việc làm ăn của chúng ta nữa đấy... Với lại, thế giá của chúng ta ở hội đường đòi hỏi chúng ta phải...
Vợ chủ quán:   Mà này ông, sao mấy hôm nay khách đông như vậy nhỉ ?
Chủ quán:        Bà chẳng theo dõi thời cuộc gì hết. Kiểm tra dân số mà... Thôi, bà cất tiền đi.
Vợ chủ quán:   ( Vừa đi vừa nói ) Ông cứ đọc tiếp đi, to to lên một tý, cho tôi nghe với.
Chủ quán:        ( Đọc Đnl 14 , 21 ) "Anh em không được ăn mọi con vật chết, mà hãy cho ngoại kiều ở trong các thành của anh em để họ ăn, hoặc hãy bán cho người nước ngoài..."
Vợ chủ quán:   ( Đang đi thì vội dừng lại ) Ấy chết, hôm qua nhà mình có một con dê chết.
Chủ quán:        Bà chẳng phải lo, hôm nay mình chỉ dùng toàn thịt bò... Con dê chết, tôi dành hoàn toàn cho khách... ( Bà vợ yên tâm vào trong )
Tiếng gọi:        Có ai ở trong nhà không ? Làm ơn cho tôi hỏi thăm.
Chủ quán:        Có, xin mời vào.
Giuse:              ( Xuất hiện ) Thưa ông, ông là chủ quán ?
Chủ quán:        Vâng, ông cần chi ạ ?
Giuse:              Chúng tôi ở nơi xa đến, ông có còn chỗ trong quán không ?
Chủ quán:        Thưa còn chỗ... ( Nhìn trang phục tồi tàn của Giuse ) nhưng mà... xin lỗi ông, ông có thể qua quán trọ cuối làng thì hơn.
Giuse:              Sao vậy, thưa ông ?
Chủ quán:        Thú thật, các phòng trong quán này giá hơi cao.
Giuse:              Thế, bao nhiêu ạ ?
Chủ quán:        Một ngày đêm là 5 đồng !
Giuse:              Thưa ông, có phòng nào rẻ hơn không ? Chúng tôi chỉ còn một nén cho suốt thời gian ở đây ( Bà vợ chủ quán cũng vừa trở ra... )
Chủ quán:        Quán chúng tôi không có thói quen trả giá. Xin chào ông !
Giuse:              Xin ông thông cảm. Vợ của tôi có thể sẽ phải ở cữ ngay đêm hôm nay...
Chủ quán:        Đó là chuyện của ông. Vấn đề của tôi là tiền trao cháo múc... Nếu cứ thông cảm, thì chắc tôi phải đóng cửa quán trọ, tôi lấy tiền đâu mà đóng thuế thập phân đây ?
Giuse:              Thôi. Như vậy cũng được.
Chủ quán:        Ông chấp nhận giá cả chứ ?
Giuse:              Vâng.
Chủ quán:        Vậy, ông hãy mời bà vào. ( Giuse ra ngoài... )
Vợ chủ quán:   Này ông ! Ông nhận họ đấy à ?
Chủ quán:        Ừ ! Thì sao ?
Vợ chủ quán:   Họ chỉ có một nén, mà cô vợ có thể sinh nở nay mai ngay trong quán mình. Họ ở lì thì làm sao đây ! Với lại... ai mà đi chứa một bà đẻ trong nhà !
Chủ quán:        Ừ nhỉ ! ( gọi vói ra ngoài ) Này ông ! ( Giuse trở lại ) Xin ông cảm phiền. Tôi rất tiếc là mình lầm. Vợ tôi vừa cho hay là hết mất chỗ rồi.
Giuse:              Như vậy... là ông không nhận chúng tôi ?
Chủ quán:        Tôi cũng rất muốn nhận, nhưng không biết làm sao, vì quán trọ không còn chỗ trống.
Giuse:              Xin ông giúp chúng tôi. Tôi thì sao cũng được, nhưng vợ tôi...
Chủ quán:        Thật sự, tôi không biết phải làm cách nào...
Giuse:              Tôi van ông, ông cho chúng tôi tá túc tạm đêm nay. Mai chúng tôi sẽ đi ngay... ở đâu cũng được.
Chủ quán:        ( Suy nghĩ ) Như thế này nhé... ( Dẫn Giuse ra phía cửa, chỉ tay... ) Ông có thấy cái chòi đàng kia không... Đấy, trong đó có đủ rơm rạ, có thể trú qua đêm.
Giuse:              Người ta có cho phép không ông ?
Chủ quán:        Đó là chuồng bò của tôi. Và chính tôi cho phép cơ mà.
Giuse:              Xin cám ơn ông ( Bước ra ngoài... )
Chủ quán:        Bà thấy không ? Một công hai việc ! Vừa tránh phiền phức, vừa thực hiện đúng như Lời Chúa. Bà còn nhớ chứ: "Anh em sẽ mở rộng tay anh em cho kẻ nghèo, kẻ khổ trên đất của anh em !"
Vợ chủ quán:   Thì tôi vẫn luôn luôn khâm phục ông mà.
Chủ quán:        Nào, đã đến giờ. Bà đọc Lời Chúa, tôi cầu nguyện. Đây, đọc đoạn này này...
Vợ chủ quán:   ( Đọc đoạn Is 60, 1 – 3 )
                          "Đứng lên, bừng sáng lên !
                          Vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
                          Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi.
                          Kìa bóng tối bao trùm mặt đất,
                          Và mây mù phủ lấp chư dân;
                          Còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa,
                          Vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
                          Chư dận sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
                          Vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước..."
Chủ quán:        Lạy Giavê Thiên Chúa, chúng con cảm tạ Ngài Vì Ngài đã ban cho chúng con hôm nay làm ăn phát đạt, đã cho chúng con biết gìn giữ luật lệ Ngài mà sẵn sàng nộp thuế thập phân và giúp đỡ người nghèo khó. Xin vinh quang Người lóe rạng trong nhà chúng con. Chúng con đã dành phòng tốt nhất trong quán trọ cho Ngài... ( Có tiếng hát văng vẳng: Gloria in excelsis Deo )
Vợ chủ quán:   Này ông ! Ông có nghe thấy gì không ? Hình như có tiếng ai hát ở đâu ấy...
Chủ quán:        Thôi đi ! Bà lúc nào cũng mơ mơ màng màng toàn những chuyện đâu đâu !
Vợ chủ quán:   Mà kìa ! Hình như ngoài trời sáng hơn trong nhà mình.
Chủ quán:        Đã hừng sáng rồi à !... Chà ! Đêm nay mình thức khuya quá. Đi ngủ thôi ! ( Cả hai đi vào, nhưng vợ còn ngoảnh lại, vẻ thắc mắc... )
Múa: Thiên Thần và mục đồng
Hướng dẫn:     Vợ chồng người chủ quán không nhận ra Ngài. Ngài đến giữa dân Ngài, và dân Ngài đã khước từ Ngài. Họ khước từ Ngài không phải vì họ không chờ đợi Ngài, nhưng họ chờ đợi ở một nơi mà Ngài không thể đến được.
                          Họ nhân danh Thiên Chúa để khước từ Ngài. Họ còn bận bịu với công ăn việc làm, họ còn bận bịu với việc giữ đạo, giữ thuế thập phân, giữ uy tín mình trong cộng đoàn tín hữu.
                          Có thể các bạn sẽ bảo rằng: "Những người giữ đạo máy móc như thế khước từ Chúa là lẽ dĩ nhiên. Chỉ có những ai biết tra cứu lời Ngài trong Kinh Thánh mới đón nhận Ngài".
                          Thế nhưng cũng không thiếu gì những người có một kiến thức vững chãi về Kinh Thánh đã từ khước Ngài. Bằng chứng là điều đó đã xảy ra ngay nơi cung điện của vua Hêrôđê. ( Hêrôđê bước ra, đi qua đi lại, vẻ nôn nóng chờ đợi. Tiếng nói: "Tâu bệ hạ, có thầy Thượng Tế đến ạ !" )
Hêrôđê:            Hãy mời vào.
Thượng Tế:             Thưa ngài, ngài cho gọi tôi.
Hêrôđê:            Ta muốn trao đổi với ông một vài điều.
Thượng Tế:              Thưa ngài, tôi xin nghe.
Hêrôđê:            Ông là người thông luật, ông có biết bao giờ Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra không ?
Thượng Tế:    Thưa ngài, Kinh Thánh báo là đấng Mêsia sẽ xuất hiện giữa chúng ta, và ngài sắp xuất hiện, nhưng sắp xuất hiện không có nghĩa là nay mai, bởi lẽ, lời tiên báo đó đã có từ thời Ixaia, cách đây 700 năm rồi.
Hêrôđê:            Ta báo cho ông biết: Đấng Cứu Thế vừa mới sinh ra.
Thượng Tế:              Thưa ngài, ngài nói sao ?
Hêrôđê:            Ta nói rằng Đấng Cứu Thế vừa mới sinh ra đời.
Thượng Tế:              Thưa ngài, ngài nói rằng hoàng hậu vừa mới sinh hạ ư ? Nhưng mà, xin thất kính với Ngài, những tháng vừa qua, hoàng hậu không có vẻ gì là đang mang thai cả.
Hêrôđê:            Ta nào nói với ông là ta có con đâu ! Ta chỉ nói rằng Đấng Cứu Thế vừa mới ra đời.
Thượng Tế:              Thưa ngài, tôi không hiểu gì cả. Kinh Thánh cho biết rằng Đấng Cứu Thế sẽ làm vua. Có nghĩa là Đấng ấy phải sinh ra làm một hoàng tử.
Hêrôđê:            Đó là điều ta đang băn khoăn. Nếu quả thật Đấng Cứu Thế đã ra đời, thì ngai vàng của ta bị đe dọa rồi đấy.
Thượng Tế:              Nhưng thưa ngài, Ngài nhận tin đó từ đâu ?
Hêrôđê:            À, chiều hôm nay có 3 người khách sang trọng đã đến đây kể một câu chuyện lạ kỳ: Họ ở ba nơi khác nhau, bên Phương Đông, nhưng cùng thấy một vì sao xuất hiện... Đó là ngôi sao lạ lùng nhất từ xưa đến nay. Họ cho đó là vì sao bổn mạng của Vị Vua lừng lẫy nhất thiên hạ. Họ đã đi theo vì sao, nhưng khi đến đây, vì sao đã bị che khuất, thế nên họ tìm đến cung điện này để dò hỏi tin tức.
Thượng Tế:              Họ nói rằng vì vua đó là ai ? Và sinh ra ở đâu ?
Hêrôđê:            Đó là câu hỏi mà họ đặt cho ta, và ta cho mời ông đến để tra cứu Kinh Thánh mà giải đáp.
Thượng Tế:              Thế thì xin ngài hãy yên tâm. Không có Đấng Cứu Thế nào sinh ra cả.
Hêrôđê:            Ông căn cứ vào đâu mà xác quyết như vậy ?
Thượng Tế:              Thưa ngài, tôi xác quyết vì ba lý do sau đây:
                          Thứ nhất: Đấng Mêsia sẽ là Vua, nghĩa là phải sinh ra trong một cung điện, với tư cách là một Hoàng Tử.
                          Thứ hai: Ơn cứu độ phải xuất phát từ dân Ngài, nghĩa là từ chúng ta. Giavê Thiên Chúa sẽ báo cho chúng ta trước hơn ai hết để chúng ta loan báo cho các dân tộc, chứ không đời nào lại có chuyện những người Phương Đông đến báo cho chúng ta.
                          Thứ ba: Đấng Cứu Thế không thể sinh ra ở Giêrusalem này, bởi vì Ngôn Sứ Mikha đã loan báo: "Hỡi Bêlem Épratha nhỏ bé... Chính tự nơi ngươi sẽ xuất hiện cho ta đấng thống lĩnh sơn hà Itraen".
Hêrôđê:            Thôi được rồi, đợi ta một chút.( Quay sang hướng khác ) Này chư vị đạo sĩ ! Theo Kinh Thánh của chúng tôi, thì Vị Vua ấy sẽ sinh ra ở Bêlem chứ không phải tại đây... Nếu chư vị muốn rõ sự thật, thì hãy đi về Bêlem... À này, khi chư vị tìm ra được con trẻ, thì hãy vui lòng trở lại cho tôi hay, để tôi cũng đến chúc mừng nhé. Chúc chư vị thượng lộ bình an.
Thượng Tế:              Thưa ngài, ngài nghĩ rằng họ sẽ tìm ra Đấng Cứu Thế ư ?
Hêrôđê:            Ta không nghĩ gì cả. Ta chỉ biết rằng mình phải cảnh giác. Thế thôi !
Thượng Tế:              Với tư cách là người canh giữ lề luật, tôi xin ngài đừng lo lắng, bởi vì nếu Đấng Xức Dầu của Giavê xuất hiện, tôi sẽ là ngươi đầu tiên lên đường đón tiếp.
Hêrôđê:            Sao ông lại không đi Bêlem mà kiểm chứng ?
Thượng Tế:              Thưa ngài, chúng tôi không cần kiểm chứng những gì nằm ngoài Kinh Thánh.
Hêrôđê:            Có thể nào ông hiểu lầm về Kinh Thánh không ?
Thượng Tế:              Thưa ngài, tôi rất đau lòng vì sự nghi ngờ của ngài. Tôi là một Thượng Tế thuộc phái Pharisêu, những gì tôi biết ở Kinh Thánh là do truyền thống nghìn đời của tổ phụ chúng ta.
Hêrôđê:            Truyền thống ! Có thể nào truyền thống về Kinh Thánh đã giết mất sứ điệp của gia Giavê Thiên Chúa chăng ?
Thượng Tế:              Xin lỗi ngài, nếu ai khác nói câu đó thì tôi đã trục xuất ra khỏi hội đường. Để cho những ngờ vực xảy ra đối với những lời dạy dỗ của tổ phụ là một nguy cơ làm cho cả một tổ chức xã hội và Giáo Hội lung lay.
Hêrôđê:            Nhưng nếu Đấng Cứu Thế xuất hiện khác với những quan niệm Kinh Thánh mà ông vừa cho biết, thì ông xử trí thế nào ?
Thượng Tế:              Chuyện đó không thể xảy ra. Nhưng ví như điều đó xảy ra, chúng tôi sẽ không chấp nhận một Đấng Cứu Thế như vậy. Chúng ta phải trung thành với Giavê trong Kinh Thánh.
Hêrôđê:            Theo ông, tất cả những gì ta nghe được lúc chiều, đều là tin đồn nhảm ư ?
Thượng Tế:              Thưa vâng.
Hêrôđê:            Nếu ta hạ lệnh giết tất cả các con trẻ ở Bêlem, kể từ ngày các đạo sĩ lên đường đến nay, ông nghĩ sao ?
Thượng Tế:              Tôi không có ý kiến gì cả. Quyền cai trị là quyền của nhà vua; chúng tôi chỉ canh giữ lề luật.
Hêrôđê:            Thôi được, ông có thể ra về... Dù sao thì ta cũng rất phục lập trường của ông. Ông sẵn sàng chỉ đường cho người khác về Bêlem, còn chính mình thì không thèm lên đường !
Thượng Tế:              Xin bái từ ngài. ( Thượng Tế ra ngoài )
Hêrôđê:            Này tướng sĩ ! ( Tiếng đáp trong hậu trường: "Dạ !" ) Hãy chuẩn bị 200 binh lính đầy đủ gươm giáo đến Bêlem, và giết tất cả các đứa con trai từ 2 tuổi trở xuống... Thi hành ngay đêm nay ! ( "Xin tuân lệnh !" – Hêrôđê ra ngoài... )
Hướng dẫn:     Ngài đã đến nhà Ngài, và gia nhân đã khước từ Ngài. Họ khước từ vì lợi lộc bản thân, nhưng họ cũng có thể khước từ vì tự mãn như vị Thượng Tế nọ. Họ có thể khước từ vì không muốn nhường chỗ cho Ngài như Hêrôđê. Vì thế, Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình, ngay đêm Giáng Sinh, giữa lòng dân riêng của Ngài.
                          Đó là câu chuyện ngày xưa. Nhưng ngày nay, phải chăng không còn những Kitô hữu phản ứng như người chủ quán, như thầy Thượng Tế, như Hêrôđê ?
                          Trong giờ phút này, chúng ta hãy cầu xin cho được một trái tim mục đồng, để nhận biết Ngài. Nhưng nhận biết Ngài cũng chỉ mới là khởi điểm; trước mặt chúng ta vẫn là con đường dài vời vợi mà chúng ta phải tiến bước trong cam go để đi đến Bêlem...
Cụ già:              Không cần phải đi đến Bêlem bạn trẻ ạ. Biết nhìn Ngài, biết đón nhận Ngài, thế là đủ rồi !
Hướng dẫn:     Thưa cụ, cụ cho rằng chỉ cần nhận biết Ngài và không cần một cố gắng nào để đến với Ngài sao ?
Cụ già:              Đúng như vậy, chúng ta không cần đến với Ngài.
Hướng dẫn:     Thưa cụ, cháu không hiểu ý cụ.
Cụ già:              Tôi sẽ cố gắng diễn tả ý mình qua việc chia sẻ với các bạn một hồng ân. Từ thuở còn là một thanh niên, trong một đêm Giáng Sinh thánh thiện, tôi ao ước sẽ có một lần trong đời tôi đi đến Bêlem.
                          Cố nhiên, tôi sẽ không thấy được Chúa Hài Đồng, nhưng tôi sẽ đi vòng chuồng bò xưa kia, quì xuống hôn Thánh Địa, như một hành động đón nhận Ngài theo gương các đạo sĩ năm xưa. Tôi đã dành dụm mấy chục năm cho đủ số tiền, và ngày hôm đó tôi khởi sự lên đường... Khi tôi vừa mới ra đến ngõ thì... ( Một người nghèo bước đến )
Người nghèo:           Thưa ông, xin ông thương xót và bố thí.
Cụ già:              Này anh, tôi rất muốn giúp đỡ anh. Nhưng thật sự, tôi không biết phải làm thế nào.
Người nghèo:           Thưa ông, nếu ông có tiền, xin giúp đỡ tôi.
Cụ già:              Thú thật là hiện giờ tôi có tiền, nhưng tôi cần phải đi xa, tôi đi đến Bêlem.
Người nghèo:           Thưa ông, vợ tôi mới mất, đứa con út tôi thiếu sữa, nó đói mấy ngày rồi. Xin ông thương xót...
Cụ già:              ( Do dự... ) Thôi được, ông cầm lấy ngần này. Đây là số tiền tôi phải dành giụm trong suốt một năm đấy !
Người nghèo:           Cám ơn ông hết lòng. Nhưng ông đến Bêlem để làm gì ?
Cụ già:              Tôi ao ước được hôn Thánh Địa.
Người nghèo:           Ông hãy tạm thời hôn mảnh đất này đi ! ( Cụ già nhìn người nghèo... đi vòng người ấy rồi quỳ xuống hôn mảnh đất trước mặt. Người nghèo bước ra. Cụ già nhìn theo... )
Hướng dẫn:     Thưa cụ, như thế cụ hoãn ngày lên đường đến một năm.
Cụ già:              Tôi không bao giờ lên đường nữa.
Hướng dẫn:     Tại sao thế ạ ?
Cụ già:              Tôi đã gặp Chúa Giêsu ( im lặng một chút... ) Vâng, người nghèo hôm ấy, chính là Đức Kitô.
Hướng dẫn:     Thưa cụ, chẳng lẽ cụ nói đùa ?
Cụ già:              Không ! Tôi nói chuyện nghiêm túc đấy. Đức Kitô đã Giáng Sinh lại từng ngày qua tất cả những anh chị em nghèo khó. Những người nghèo khó trong tâm hồn hay trên thể xác, chính là Ngài đấy.
                          Ngài vẫn cần một miếng cơm ăn, Ngài vẫn cần một cái nhìn thông cảm, thế mà tôi đã từng làm ngơ với Ngài để mong đi tìm một kỷ niệm về Ngài nơi Bêlem xa xôi.
                          Ngài đã đến với tôi hằng ngày, bởi vì bên cạnh tôi không bao giờ thiếu một anh chị em nghèo khó trên một bình diện nào đó. Tôi không cần phải đến với Ngài, bởi vì Ngài đã đích thân đến với tôi.
                          Kể từ ngày hôm đó, tôi hiểu rằng bất cứ hòn đất nào một anh chị em đau khổ của tôi đạp lên, hòn đất đó đã trở thành Thánh Địa. Những ngày còn lại trong đời tôi sẽ mãi mãi là những ngày Giáng Sinh nhiệm mầu. ( Cụ già từ từ đi ra... Tiếng hát vọng theo ):
                          "Tôi đã gặp Đức Kitô đang cô đơn trong lòng con người.
                          Tôi đã gặp Đức Kitô đang đau thương trên hè phố.
                          Không ai căng biểu ngữ chống đối Ngài,
                          Nhưng không ai thèm ngó tới Ngài, Ngài còn đang cô đơn..."
Hướng dẫn:               Thưa các bạn,
                          Ngài đã Giáng Sinh lại trong cuộc đời chúng ta. Ngài đến trong nhà Ngài, và gia nhân Ngài không đón nhận Ngài. Gia nhân Ngài ngày hôm nay, chính là chúng ta. Điều này làm cho chúng ta nghĩ ngợi...
                          Chúng ta có thể là một chủ quán, suốt ngày tính toán đến chuyện cơm áo gạo tiền, và phụng sự Chúa như thi hành một nhiệm vụ nặng nề nào đó...
                          Chúng ta có thể là một thầy Thượng Tế, đọc Kinh Thánh hằng ngày, mà không để cho Tin Mừng đánh đổ những định kiến của mình...
                          Chúng ta có thể là một Hêrôđê âu lo cho gương mặt của mình, và để cho gương mặt của Ngài mờ nhạt giữa thế gian.
                          Nếu chúng ta là những người như vậy thì chúng ta sẽ bắt hụt niềm vui Giáng Sinh. Bởi vì dù ngày hôm nay có linh thiêng và cảm động đến đâu, nó cũng chỉ gợi lại một kỷ niệm, mà nói đến kỷ niệm là nói đến một cái gì không còn nữa.
                          Thế nhưng... "Đức Kitô hôm qua, hôm nay vẫn là một và cho đến muôn đời !" Ngài đã giáng sinh hôm qua trong khó nghèo thì mãi mãi Ngài sẽ giáng sinh trong những người nghèo. Nếu chúng ta đón nhận họ, xót thương họ, nâng đỡ họ, đến với họ, thì niềm vui Giáng Sinh sẽ kéo dài suốt cuộc đời chúng ta.
                          Niềm vui đó là niềm vui của những gia nhân biết đón nhận chủ của mình, và... "Hễ ai đón nhận Ngài thì Ngài ban cho họ quyền trở nên con của Thiên Chúa..." Maranatha, lạy Chúa, xin hãy đến ! ( Hát kết thúc: Maranatha, Ngài ơi hãy đến... )
Múa: Hoan ca Giáng Sinh
TRẦN DUY NHIÊN

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM CANH THỨC - CHÚA GIÊSU, TÌNH YÊU NHẬP TH

CHÚA GIÊSU, TÌNH YÊU NHẬP THỂ

CHƯƠNG TRÌNH ĐÊM CANH THỨC

MỪNG CHÚA GIÁNG SINH , HỘI AN  2010

KỊCH BẢN : LM ANTÔN NGUYỄN TRƯỜNG THĂNG, LM PHAOLÔ TRẦN NGỌC HOÀNG, NỮ TU ANNA NGUYỄN THỊ LƯƠNG SPC HỘI AN 12/2010 VÀ ĐÃ THỰC HIỆN ĐÊM CANH THỨC GIÁNG SINH 24/12/1010.



A. Khai mạc

– Hát Kinh Chúa Thánh Thần

LỜI DẪN

Kính thưa quý ông bà và anh chị em.

Đêm nay, đêm huyền nhiệm, đêm nối kết đất trời. Đêm Tình Yêu lên ngôi. Chúa yêu trần thế, nhập thể làm người. Ngài là Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đấng hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một; Đấng đã đến, đang đến và sẽ đến.

Vâng, Đời có ý nghĩa gì, nếu thiếu vắng bóng dáng Tình Yêu; thiếu vắng Thiên Chúa. Bởi Thiên Chúa là Tình yêu, là căn nguyên, cội nguồn sự sống, nhờ người mà muôn vật được tạo thành….

Vì thế, niềm vui Giáng Sinh không dừng lại với chúng ta đêm nay nơi tâm hồn mỗi người… nhưng niềm vui này phải được trào tràn lan tỏa ra mọi người, bằng chính sự quảng đại dấn thân của chúng ta. Mỗi người hãy đi vào quỹ đạo Tình Yêu của Mầu Nhiệm Nhập Thể, qua việc nhiệt thành lên đường sống chứng nhân cho Chúa trong chính môi trường sống, giữa lòng dân tộc hôm nay.

Kính thưa quý vị.

Để cảm nghiệm được phần nào Tình Yêu cứu độ của Thiên Chúa và mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể Làm Người, kính mời toàn thể cộng đoàn chúng ta sốt sắng đi vào Đêm Canh Thức Giáng Sinh 2010 với Chủ đề: TÌNH YÊU NHẬP THỂ  của giáo xứ Hội An chúng ta.

B. Canh Thức

Lời dẫn: Đêm nay, đêm của đất trời giao hòa kết mối duyên xưa. Đêm của chia sẻ cảm thông. Đêm của tình yêu lên ngôi. Thiên Chúa là Tình Yêu, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

I. MỘT TÌNH YÊU SÁNG TẠO.

Tình yêu luôn thôi thúc tiến đến một kết quả cụ thể. Nếu hoa trái của Tình yêu đôi lứa chính là những đứa con được thai nghén và chào đời. Tình yêu quê hương là những công trình phúc lợi an dân, tô điểm cho non sông đất nước…. thì Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa hơn bao giờ hết đã quyết định tác tạo một công trình vĩ đại: đó là trời đất vũ trụ bao la được tạo thành.

Hoạt cảnh  : Dùng phim chiếu cảnh tạo dựng; Vườn địa đàng (5phút)

Thiên Chúa dựng nên trời đất, biển cả sông ngòi; cùng muôn thú vật cá biển chim trời và các loại thảo mộc mọc lên xanh tươi, ngào ngạt hương thơm, đơm hoa sai trái… mọi vật đều tốt đẹp, hài hòa trong bài ca tạ ơn Đấng muôn trùng cao cả. (Nhạc Nền)

TC: Phải có một sinh vật gì giống hình ảnh mình: nó phải có phần thiêng bất tử là linh hồn nhập thể trong xác thân vật chất; phải có lý trí, có ý chí, có tình yêu, và có tự do…. Thôi, ta hãy dựng nên con người có nam, có nữ. Rồi cho họ ở lại trong vườn Địa Đàng, để chúng quản cai chim trời cá biển, quản lý và tiếp tục công trình sáng tạo cho mình bằng chính đôi bàn tay và khối óc của chúng.

Lời dẫn: Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.

TC:  Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho ngươi  một trợ tá tương xứng.

Lời dẫn: Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn từ con người làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói:

Adam:: Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.


II. TÌNH YÊU VẪN DÕI THEO CON NGƯỜI

Lời dẫn: Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng mà Thiên Chúa đã tạo nên. Nó nói với người đàn bà:

Rắn: Có thật Thiên Chúa bảo: Các ngươi không được ăn hết trái cây trong vườn không?

Evà: Trái cây trong vườn thì chúng tôi được ăn. Còn trái cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa đã bảo không được động tới, kẻo phải chết.

Rắn: Chẳng chết chóc gì đâu. Nhưng Thiên Chúa biết, ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ trở nên như các thiên thần, sẽ biết được điều thiện điều ác.

Lời dẫn: Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn… Và đưa cho cả chồng đang ở đó với bà cùng ăn.

Evà: Anh ơi, ăn đi. Trái cây ngon lắm

Adam: Á, chết. Không được, Chúa bảo rồi, là không được ăn mà.

Evà: Kệ mà. Ngon lắm. Anh ăn thử đi.

Lời dẫn: Bấy giờ mắt hai người mở ra, nhưng thay vì thấy mình sáng láng, lại thấy mình trần truồng. Cả hai ông bà cùng hổ thẹn, vội vàng lẫn vào các bụi cây và tìm lá làm khố che thân, tìm cách trốn tránh khỏi giáp mặt với Đức Chúa.

Thiên Chúa: Ai đã cho các ngươi biết là các ngươi đang trần truồng? Có phải các ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm các ngươi ăn không?

Adam: Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây đó, nên con ăn.

Thiên Chúa: Ngươi đã làm gì thế?

Evà: Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.

Thiên Chúa: Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy. Dòng giống đó sẽ đạp nát đầu mi, và mi sẽ rình cắn vào gót chân người.

Thiên Chúa: Evà ! Ta sẽ làm cho ngươi cực nhọc thật nhiều khi thai nghén, đau đớn khi sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.

Thiên Chúa: Còn ngươi, Adam ! Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã cấm, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi. Ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra… cho đến khi trở về với đất vì từ đất ngươi đã được lấy ra.

Lời dẫn: Đức Chúa là Thiên Chúa làm cho con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ. Người trục xuất họ ra khỏi vườn Địa Đàng. Người đặt thần Hộ Giá với lưỡi gươm sáng lóe, để canh giữ đường đến cây trường sinh.

Lời dẫn: Hạnh phúc tan vỡ, Thiên Đàng đã mất. Con người càng xa Thiên Chúa thì tội lỗi càng chất chồng. Dầu nhân loại lạm dụng tự do chối bỏ tình yêu Chúa để chạy theo ma quỷ, thế gian và xác thịt… nhưng Thiên Chúa vẫn một lòng tín trung, vẫn một lòng yêu mến con người.

Để chuẩn bị cho chương trình cứu độ, Thiên Chúa đã chọn một dân riêng. Khởi đầu bằng sự kêu gọi và thiết lập giao ước với các tổ phụ: Abraham, Isáac, Giacóp… Rồi Chúa chọn Môsê, trao ông nhiệm vụ giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Thiên Chúa:  Môsê, Môsê

Môsê:  Dạ tôi đây.

Thiên Chúa: Ta đã biết các nỗi thống khổ của dân Ta. Ta sẽ giải thoát chúng và đưa chúng về miền đất hứa tốt tươi. Bây giờ ngươi hãy đi, Ta sai ngươi đưa dân Ta ra khỏi Ai Cập.

Môsê: Ôi lạy Chúa, không được đâu. Vua Ai Cập sẽ giết tôi chết mất.

Thiên Chúa: Hãy đi đừng sợ. Ta sẽ ở với ngươi.

Lời dẫn: Môsê đi gặp vua Pharaon. Đêm hôm ấy, một đêm lịch sử. Toàn dân Israel vội vã lên đường không được chậm trễ. Cả lương thực cũng không kịp chuẩn bị. Thiên Chúa dùng cánh tay uy quyền đưa họ đi vào sa mạc, vượt qua Biển Đỏ ráo chân.

Dân chúng: Cấp báo, cấp báo. Quân Ai Cập đuổi theo…. Môsê, Môsê, bên Ai Cập không đủ mồ chôn hay sao mà ông lại đưa chúng tôi vào chỗ chết như thế này, hả…

Môsê: Đừng sợ, cứ đứng vững, rồi anh em sẽ thấy việc Đức Chúa làm hôm nay để cứu thoát anh em…. Đức Chúa sẽ chiến đấu cho anh em…

Thiên Chúa: Môsê, Phần ngươi, cầm gậy lên, giơ tay trên mặt biển…

Lời dẫn: Lập tức nước rẽ ra, sừng sững như tường thành hai bên tả hữu. Con cái Israel đi qua khô ráo ngay giữa lòng biển. Quân Ai Cập đuổi theo. Toàn thể chiến mã, chiến xa và kị binh của Pharaon tiến vào giữa lòng biển….

Thiên Chúa: Môsê, hãy giơ tay trên mặt biển.

Lời dẫn: Môsê làm như vậy. Tức thì Nước biển ập lại như cũ xô ngã, nhấn chìm chiến xa và kị binh. Vùi lấp toàn thể quân lực của Pharaô đã đuổi theo dân Israel đi vào lòng biển. Không một tên nào sống sót… Ngày đó, Đức Chúa đã cứu Israel khỏi tay quân Ai Cập… Thấy vậy, toàn dân kính sợ Đức Chúa, tin vào Đức Chúa, tin vào ông Môsê.

Hát bài “Vang Lên Muôn Lời Ca”.

Lời dẫn: Chúa thiết lập Giao ước, Chúa ban giới răn… Đó chính là những khuôn vàng thước ngọc để dân Israel sống đẹp lòng Chúa.

Thiên Chúa: Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.

Thiên Chúa: Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.

Thiên Chúa: Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao hay dưới đất thấp mà bái thờ….



Lời dẫn: Cho dù Thiên Chúa luôn ấp ủ, yêu thương con người như ” gà mẹ che chở con dưới cánh” …. Nhưng con người có tự do và họ đã tiếp tục dùng tự do đó để khước từ tình yêu Thiên Chúa mà chạy theo những ý riêng của mình… bằng cách họ đúc tượng bò vàng và phục bái tôn thờ. Thay hình Giavê Thiên Chúa bằng hình bò ăn cỏ. (nhạc cầu nguyện)

III. VÀ TÌNH YÊU ĐÃ NHẬP THỂ, ĐÃ VÀO ĐỜI.

Lời dẫn: Từ khi Evà đưa tay hái quả cấm trong vườn Địa Đàng. Con người bị luận phạt, công trình tạo dựng tốt đẹp của Thiên Chúa bị hoen ố, tỳ vết…. Nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ mặc con người chết trong nô lệ tội lỗi. Ngài đã hứa ban Đấng Cứu Thế.Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai. Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Thiên Chúa đã kiên nhẫn chờ đợi sự ưng thuận của một người nữ. Maria, Eva mới, đã đáp lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa qua hai tiếng Xin Vâng được cất lên nhè nhẹ, khiêm nhu trong niềm tin yêu tín thác.

Bà Elizabeth có thai được 6 tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gaprien đến một thành miền Galilêa, gọi là Nazareth, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. (Nhạc)

(Maria đang cầu nguyện. Nàng quỳ trang nghiêm bên bục với cuốn Kinh Thánh trên tay…).

Sứ thần: “Mừng vui lên, hỡi đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”.

Nghe lời ấy, Maria rất bối rối, kinh ngạc tự hỏi.

Maria: Lời chào như vậy có nghĩa gì?

Sứ thần: Này Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời. Và triều đại Người sẽ vô cùng, vô tận.

Maria vội vàng đứng lên. Không thể nào tin nổi được, Maria liền thưa với sứ thần:

Maria: Việc ấy xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng.

Sứ thần: Thánh thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối sẽ bao phủ bà. Vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Elizabeth, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai. Bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay vẫn có thai được 6 tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.

(Khuôn mặt của Maria sáng rạng lên. Khiêm nhường quỳ xuống.Ngước mắt cao, cung kính nói)

Maria: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền.

Lời dẫn: Ngay lúc lời thưa hai tiếng Xin Vâng  được cất lên, Con Thiên Chúa nhập thể trong lòng trinh nữ Maria…… (nhạc)

Lời dẫn: Lệnh hoàng đế Augustô được ban hành, mọi người đều trở về quê quán để kiểm tra nhân khẩu. Bêlem, mọi người khắp nơi tấp nập đổ về. Thánh Giuse và Đức Mẹ cũng mau mắn thì hành. Đêm đã khuya mà hai ông bà vẫn chưa tìm được chỗ trú ngụ. Bởi sự ích kỷ nhỏ nhen đã khép kín tâm hồn, chôn vùi tình người. Mặc cho lời khẩn khoản nài xin nương nhờ của hai ông bà.

Lời dẫn: Vâng, đó là sự bạc bẽo của con người. Sự trọng giàu khinh nghèo của phần đông chúng ta đối xử với nhau ngày nay. Xin Chúa hãy thức tỉnh tâm hồn mỗi người chúng ta, để biết sẵn sàng rộng mở quán trọ lòng mình để đón tiếp mọi chi thể đau thương của Đức Kitô.

Trong lúc hai ông bà đang ở Bêlêm, thì Maria đến ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh hạ con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, đặt nằm trong máng cỏ, giữa hang đá ngoài đồng vắng vì hai ông bà không tìm được chỗ trọ. (kéo chuông – nhạc mừng Giáng Sinh).

Trần gian như say ngủ không nhận ra giờ phút linh thiêng trọng đại này, chỉ có nơi trời cao, thiên cung náo động xôn xao, muôn thiên thần vang lên tiếng đàn ca hát mừng.



Lời dẫn: Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng, thức đêm canh thức đàn vật. Sứ thần Thiên Chúa hiện đến báo tin mừng trọng đại cho họ là Đấng Cứu Thế đã hạ sinh tại Bêlem. Họ liền bảo nhau đến bái thờ…  Ba Vua cũng từ phương đông dõi theo ánh sao tua, họ vội vã lên đường sang tận Bêlem, để tôn thờ, kính bái Chúa Hài Đồng và không quên dâng lên Ngài những lễ vật đầy ý nghĩa: vàng, nhũ hương và mộc dược.



Lời dẫn : Với tháng ngày dần trôi. Một năm, hai năm, rồi ba mươi năm…Hài Nhi lớn lên ” càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa và người đời”. Ngài đã công khai thi hành sứ mệnh Cha trao: Đó là làm cho mọi người nhận biết Thiên Chúa Tình Yêu, đem ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người. Ngài bôn ba đó đây nơi tất cả các làng mạc thôn xóm: rao giảng Lời Chúa, xua trừ quỷ dữ, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền…. Ngài thiết lập Giáo Hội, mời gọi mọi người cũng hãy đi vào quỹ đạo Tình Yêu ấy; bằng cách hãy lên đường sống chứng nhân cho Chúa trong chính môi trường sống, giữa lòng dân tộc.

Dẫn truyện :

Vì đường sá giao thông cách trở, qua nhiều thế kỷ, Phương Tây và Phương Đông là hai vùng trời cách biệt. Đến thế kỷ 15, khi người Bồ Đào Nha VátCô đề Gama (Vasco de Gama) và người Tây Ban Nha Ma gên Lân (Magellan) khám phá ra con đường biển đến Á Châu, con đường mà ngày nay gọi là con đường tơ lụa trên biển, con đường của các loại hương liệu, thì những tàu buôn chở nặng hàng hoá theo gió mùa phăng phăng căng buồm vượt đại dương từ phương tây tiến về phía đông và ngược lại những thuyền buồm Trung quốc, Châu An thuyền Nhật Bản xuôi về hướng Tây Nam.

Đất nước ta nằm trên con đường thương mại quan trọng đó.

Vào thế kỷ 16, 17, nước Việt bị chia đôi. Phía Bắc do Vua Lê, Chúa Trịnh cai trị, (gọi là Đàng Ngoài). Miền Nam do Chúa Nguyễn lãnh đạo (gọi là Cô săn si na hay Đàng Trong). Hai miền tranh bá đồ vương và bất phân thắng bại. Cuối cùng con sông Gianh trở thành cột mốc phân chia ranh giới hai miền.

Tại Đàng Trong, nghe lời căn dặn của thân phụ là Chúa Nguyễn Hoàng. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (gọi là Chúa Sãi) đã ra sức phát triển nông nghiệp và thương mại. Thuyền bè các nước vào ra cảng Cửa Hàn và Hội An. Hàng năm, vào tháng giêng dương lịch, khi các trận bão qua đi và gió bấc thổi từ phía bắc xuống thì những thuyền buôn Trung quốc, Nhật Bản và thuyền Bồ Đào Nha từ Ma-Cau, sau khi Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho phép, cũng xuất hiện tại các cảng biển Đàng Trong. Mùa hội chợ, bán buôn đã đến. Chính trong bối cảnh đó, một chiếc Nau. Thuyền buồm lớn của người Bồ đã xuất hiện và tiến vào Cửa Hàn, hôm đó là ngày 18 tháng Giêng năm 1615.

Diễn :Cảnh họp chợ tại bải biển Đà Nẵng. Dân chúng thuộc nhiều thành phần qua lại. Cảnh buôn bán, hội hè, gồng gánh. Nho sĩ Việt Nam, thương gia Trung quốc, Nhật Bản…Vài con thuyền Trung quốc, Nhật Bản qua lại, ghe Việt…Chiếc thuyền buồm Bồ chạy qua…Dân chúng quay ra vổ tay, phất tay đón chào…

Vịnh Cửa Hàn sau muà giông bão thật yên bình nên thơ. Mùa buôn bán, mùa chợ phiên đã trở lại.

(Dân chúng hò reo đón chào. Con tàu tiến về đậu tại một gành đá, có vài nhánh cây che các nhân vật, các nhân vật bước xuống  bậc cấp, trước hết là vài thuỷ thủ, sĩ quan, thương gia Bồ..)

Hôm nay, trên tàu bước xuống, ngoài các thuỷ thủ, sĩ quan, thương gia Bồ, người ta thấy có những người ăn mặc hơi khác thường với những chiếc áo thụng dài màu đen đơn sơn. Họ là ai? Dân chúng thắc và được những người thông thạo cho biết, họ là những tu sĩ dòng Tên đến từ Ma Cau hay cũng gọi là Ao Môn.

Trưởng đoàn là linh mục Phanxicô Budômi (Francesco Buzomi) người xứ Napôli Italia. Phó đoàn là linh mục Đi-ê-gô Cavahô (Diego Cavahlo) người Bồ Đào Nha và các thầy Antôniô Điát ( Antonio Dias) người Bồ và hai thầy gốc Nhật Bản Phaolô và Giuse Xaitô.

(Một người Việt giới thiệu)

“Thưa toàn thể đồng bào Đàng Trong và Cửa Hàn. Đây là những thầy tu đạo Hoa Lang, đạo của người Portugan. Nghe nói dân chúng Đàng Trong rất sùng đạo, nên họ không quản gian khổ để đến đây rao giảng một đạo mới cho đồng bào ta nhưng có rất lâu đời ở bên Tây Dương gọi là Eu-rô-pa (Europa).”

(Giả giọng Tây nói tiếng Việt)

Kính chào bà con xứ Côsinsina, chúng tôi là những tu sĩ dòng ông thánh Inhaxu, cũng gọi là dòng Đức Chúa Yêsu. Chúng tôi từ Eurôpa xa xôi đến đây, chúng tôi vui mầng nghe nói người xứ Cosinsina rất sùng đạo. Vì thế, chúng tôi bỏ cha mẹ, quê hương, nhà cửa đến đất nước xa xôi, xinh đẹp nầy,. Không phải vì lợi lộc, tiền bạc, đất đai..mà chúng tôi vâng lệnh Đức Chúa Blời đất đến đây báo Tin vui mừng của Đức Chúa Yêsu để ai tin thì chịu phép Rửa tội Nhân nhít danh Cha, Nhân nhít danh Con và nhân nhít danh Spirito Santô.”

Dẫn truyện : Công việc rao giảng Tin mừng buổi đầu ấy quá khó khăn vì các ngài không sành tiếng Việt, phải giảng qua thông ngôn, chúng ta hãy thử nghe một buổi giảng.

Một linh mục nói tiếng Latinh, ngưòi thông ngôn dịch..( trích vài câu  từ Phép giảng Tám ngày của cha Đắc Lộ)

(Suppliciter petamus ab optimo Caeli Domino ut adjuves nos ad hoc ut intelligamus probe legem Domini intelligendum autem..)

Ta cầu cùng Đức Chúa Trời giúp sức cho ta biết tỏ tường đạo Chúa là nhường nào…

(ut poenae  evadatis, praemiaque sempiterna consequamini”

mà làm  cho mọi người khỏi phải chịu phạt khốn nạn vô cùng, trái lại được hưởng vui vẻ vô cùng.

(cum autem tam huic regno Tunchinensi  haec divina lux exorta fìt)

ấy đạo thánh  Đức Cha Blời đất  soisáng  đến nước An Nam nầy)

(Ne claudatis animarum vestrarum et cordium spirituales oculos sed rationi conformam legem toto corde amflectimini)

chớ chớ ai đóng con mắt thiêng liêng  ở trong linh hồn và trong lòng  ta, mà  lại chịu lấy đạo chinh phải lẽ, hết lòng  hết sức.

(Et superioris vitae caecitatem deteflantes et errorum tenebras quibus immersi hactenus fuistis A Supremo rerum coditore ac domino…cum gratiarum actione recipite)

“lại ghét  bỏ đi những tối tăm mù mịt tội lỗi, mà cám ơn Đức Chúa Cả, cho bấy giờ đạo sáng”

Sau bi giảng hôm đó nhiều người gật đầu khen là phải lẽ và từ đó Tin Mừng Chúa Kitô được người Việt chấp nhận.

(Dân chúng vỗ tay tán thưởng )


V. CHÚA YÊU CON NGƯỜI VÀ MỜI GỌI CON NGƯỜI BƯỚC VÀO TÌNH YÊU BAO LA : NIỀM VUI THIÊN  ĐÀNG.

Kể từ ngày ấy Tin Mừng Tình thương được vãi gieo trên mãnh đất Hội An thân yêu và âm thầm sinh hoa kết trái. Hôm nay con số những người Tin Vào Tin Mừng, nhận biết tình yêu thương của Thiên Chúa vẫn là con số không nhỏ… Thế nhưng, kết quả, cùng đích của Tin Mừng gieo vãi không chỉ để vãi gieo nhưng cùng đích phải giúp hết thảy mọi người nên thánh, mọi người được bước vào chung hưởng niềm vui thiên đàng, được cùng với muôn thần thánh ngày đêm cất cao lời ca ngợi khen tôn vinh Tình Yêu Thiên Chúa.


– VŨ : VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN CÁC TẦNG TRỜI.

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO LOÀI  NGƯỜI CHÚA YÊU.

Lời dẫn: Thưa cộng đoàn. Chúng ta kết thúc đêm canh thức Giang Sinh giờ này, nhưng niềm vui Giáng Sinh không chấm dứt đêm nay mà kéo dài bất tận như bản trường ca bất hủ. Vì đêm nay trên khắp hoàn vũ nhân loại bất phân giai cấp, giàu nghèo, sang hèn… đang nối kết cùng một niềm tin sống lại hồng phúc cứu độ, hát mừng Con Thiên Chúa làm người. Ngài vẫn là một. Hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu, Emmanuen, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Giờ đây xin cộng đoàn, yên lặng, trang nghiêm để chuẩn bị tâm hồn sốt sắng bước vào Thánh Lễ MỪNG CHÚA GIÁNG SINH NĂM 2010.

Hội An, 26 tháng 12 năm 2010.

Lm Antôn Nguyễn Trường Thăng.

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS