HÓA RA MỌI THỨ TRONG CUỘC SỐNG ĐỀU ĐƠN GIẢN
1. Có một người vào thi để xin việc làm trong một công ty nọ, khi đi dọc hành lang đến phòng thi, anh thấy có mấy tờ giấy vụn dưới đất, liền cúi xuống nhặt lấy và bỏ vào thùng rác. Người phụ trách thi vấn đáp vô tình trông thấy từ xa, đã quyết định nhận anh ta vào làm việc cho công ty. Hóa ra để được trọng dụng thật là đơn giản, chỉ cần tập những thói quen tốt.
2.Có
một cậu bé vào tập việc trong một tiệm sửa xe đạp, có người khách đem đến một
chiếc xe đạp hư, cậu bé không những sửa lại cho thật tốt, mà còn lau chùi cho
chiếc xe cho sạch đẹp. Những người đang học việc khác cười nhạo cậu bé đã dại
dột, đã chẳng được thêm chút tiền công nào lại còn tốn sức. Hai ngày sau, người
khách trở lại, thấy chiếc xe đạp vừa tốt vừa đẹp như mới mua, cậu bé liền được
người khách nhận đưa về hãng của ông ta để làm việc với mức lương cao. Hóa ra
để thành đạt trong đời thật đơn giản, chỉ cần cố gắng chịu thiệt thòi một
chút...
3.Có một em bé nói với mẹ: "Mẹ ơi, hôm nay mẹ rất đẹp!" Bà mẹ hỏi: "Ơ, sao con lại khen mẹ như thế ?" Em bé trả lời: "Bởi vì hôm nay mẹ... không nổi giận như mọi ngày!" Hóa ra muốn có một vẻ đẹp khả ái cũng thật đơn giản, chỉ cần không nổi giận là được.
4.Có
một huấn luyện viên quần vợt nói với học sinh: "Nếu quả bóng rơi vào trong
đám cỏ, thì làm thế nào để tìm nó ? Một người nói: "Bắt đầu từ trung tâm
đám cỏ mà tìm." Một người khác nói: "Bắt đầu từ nơi chỗ đất trũng
nhất mà tìm." Lại một người khác nói: "Bắt đầu từ trong đám cỏ cao
nhất mà tìm." Huấn luyện viên tuyên bố đáp án chính xác nhất: "Làm
từng bước một, từ đám cỏ này đến đám cỏ kia." Hóa ra phương pháp để tìm
thành công thật đơn giản, cứ tuần tự, từ số 1 đến số 10 không nhảy vọt là có
thể được.
5.Có
một cửa hàng thương nghiệp đèn đuốc thường sáng trưng, có người hỏi: "Tiệm
của anh thường dùng loại đèn nào vậy, tôi thấy rất bền, lúc nào cũng sáng,
chẳng thấy chiếc bóng nào hư !?!" Người trông coi cửa hàng nói: "Đèn
của chúng tôi cũng hay bị cháy lắm, chẳng qua là chúng tôi thường thay ngay
bóng đèn mới khi bóng đèn cũ vừa bị hư mà thôi." Hóa ra để duy trì ánh
sáng thật đơn giản, chỉ cần thường xuyên thay đổi là được.
6.Con
nhái ở bên ruộng nói với con nhái ở bên vệ đường: "Anh ở đây quá nguy
hiểm, dọn qua chỗ tớ mà ở." Con nhái ở bên đường trả lời: "Tớ đã quen
rồi, hơn nữa, cũng thấy ngại, làm biếng không muốn dọn nhà." Mấy ngày sau
con nhái ở bên ruộng đi thăm con nhái ở bên đường, phát hiện nó đã bị xe chạy
ngang qua cán chết rồi, xác nằm bẹp dí bên đường đi. Hóa ra phương pháp nắm giữ
vận mệnh thật đơn giản, tránh xa lười biếng là xong.
7.Có
một con gà con đang phá tìm cách vỏ trứng để chui ra, nó chần chừa e ngại thò
đầu ra ngoài ngó nghiêng sự đời xem sao... Ngay lúc ấy có một con rùa chậm chạp
lết ngang qua đó. Thế là con gà con quyết định rời khỏi cái vỏ trứng ngay lập
tức, không do dự chi nữa. Hóa ra muốn thoát ly gánh nặng trầm trọng thật đơn
giản, chỉ cần dẹp bỏ óc thành kiến cố chấp là có thể được.
8.Có
mấy em bé rất muốn làm thiên thần, Thượng Đế trao cho mỗi bé một cái chân đèn
bằng đồng, và bảo chúng trong lúc chờ Ngài trở lại, hãy giữ cái chân đèn sao
cho luôn được sáng bóng. Nhưng rồi một tuần đã trôi qua đi mà vẫn chưa thấy
Thượng Đế trở lại, tất cả các em bé đã nản chí, không còn chúi bóng chân đèn
của mình nữa. Một hôm, Thượng Đế đột nhiên đến thăm, chân đèn của mỗi đứa bé
lười nhác đều đã đóng một lớp bụi dày, chỉ duy có em bé mà thường ngày cả bọn
vẫn kêu bằng thằng ngốc, dù cho Thượng Đế chưa thấy đến, hằng ngày bé vẫn nhớ
lời dặn, lau chùi cái chân đèn sáng bóng. Kết quả em bé ngốc này được trở thành
thiên thần. Hóa ra làm thiên thần thật đơn giản, chỉ cần có một tấm lòng thật
thà tận tụy.
9.Có
một con heo nhỏ đến xin làm môn đệ của một vị thần, vị thần ấy vui vẻ chấp
nhận. Lúc ấy có một con trâu nghé từ trong đám bùn lầy bước ra, toàn thân đầy
lấm lem đầy bùn dơ bẩn, vị thần nói với con heo nhỏ: "Heo ơi, con hãy đến
giúp con nghé tắm rửa cho sạch sẽ đi." Con heo nhỏ trố mắt ngạc nhiên:
"Con là môn đệ của thần, sao lại có thể đi phục vụ một con nghé bẩn thỉu
như thế chứ ?" Vị thần bảo heo con: "Con không đi phục vụ kẻ khác,
thì kẻ khác làm sao biết được con là... môn đệ của Ta ?" Hóa ra học hành
tập luyện để nên giống một vị thần thật đơn giản, chỉ cần đem lòng thành thật
ra mà phục vụ là được."
10.Có
một đoàn người đãi vàng đang đi trong sa mạc, ai nấy bước đi nặng nhọc, chỉ có
một người bước đi cách vui vẻ, người khác hỏi: "Làm sao anh có thể vui vẻ
được chứ ?" Người ấy trả lời: "Bởi vì tôi mang theo hành trang thật
gọn nhẹ."
Hóa
ra sống vui vẻ thật đơn giản, có thiếu thốn chút ít đi nữa thì vẫn không sao.
NHỮNG BIỂU TƯỢNG CÔNG GIÁO
THÁNH GIÁ
Cây thánh giá có lẽ là một biểu tượng được biết đến nhiều nhất. Thánh giá được chọn làm biểu tượng cho sự vinh quang của Đức Kitô đã chiến thắng sự dữ và sự chết. Vì vậy, thánh giá tượng trưng cho sự chiến thắng và vinh quang.
INRI
Những chữ này thường được khắc trên cây thánh giá. Những chữ ấy được tượng trưng cho bốn từ mà khi xưa quan Philatô cho quân lính khắc trên cây thánh giá mà Chúa Giêsu bị treo: "Iesus Nazerenus Rex Iudeorum" có nghĩa là: "Giêsu Nazareth, Vua Do Thái".
NƯỚC
Nước là một trong những biểu tượng chính tượng trưng cho cuộc sống.
Khi chúng ta chịu Phép Rửa Tội, nước được tượng trưng cho một cuộc sống mới. Những tội lỗi chúng ta được tẩy xóa và tha thứ, để chúng ta có một cuộc sống mới và được sống lại với Chúa Kitô.
BÁNH
Bánh là một thức ăn rất thông thường với mọi người, mọi tầng lớp. Từ những hạt lúa bé nhỏ, qua bàn tay chế biến của con người đã trở nên những tấm bánh thơm ngon nuôi sống con người. Hình ảnh bẻ bánh ra chia sẻ với những người xung quanh trong bữa ăn, tượng trưng cho sự đoàn kết. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh này để phán dạy chúng ta: Ngài chính là Bánh Hằng Sống. Trong một niềm tin mạnh mẽ, chúng ta lãnh nhận bánh này như chính mình Ngài và sẽ được trở nên một với Ngài.
RƯỢU NHO
Từ xưa đến nay, rượu thường được dùng trong các bữa tiệc lớn. Đặc biêt rượu nho được sử dụng trong thánh lễ tượng trưng cho máu Chúa Giêsu. Hình ảnh rượu nho nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu đã hy sinh mạng sống của Ngài vì chúng ta để chúng ta được chung phần với Ngài trong bàn tiệc trên nước trời.
CÁ
Cá là một biểu tượng cổ. Trong tiếng Hy Lạp cá là "icthus". Khi xưa, người ta nhận thấy rằng các chữ được bắt đầu từ các chữ cái của từ icthus như: "Giêsu Kitô, Con của Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Độ".
APHA & OMEGA
Alpha = khởi nguyên, khởi đầu Omega = tận cùng, kết thúc. Chúa là sự khởi đầu. Ngài là người tạo dựng nên trời đất. Ngài cũng là sự kết thúc. Khi vũ trụ này không còn nữa, Ngài sẽ mãi mãi tồn tại.
IHS
Tiếng Latin đọc là "Iesus Hominum Salvator"
Tiếng Việt có nghĩa là: "Chúa Giêsu, là Đấng Cứu Chuộc của nhân loại".
CHI & RHO
Chi = Ch Rho = R
Chr là ba mẫu tự đầu tiên của từ "Christ" có nghĩa là "Đức Kitô".
CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG
Bồ câu trắng tượng trưng cho Thần Khí Chúa ngự trên chúng ta. Bồ câu trắng có một cái vòng tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, cũng là Ngôi Thứ Ba. Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn và soi sáng chúng ta trên những bước đường chúng ta sẽ đi.
AGNUS DEI
Con chiên đang đứng với một lá cờ nhỏ ý nói Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng Xóa Tội trần gian đã sống lại từ cõi chết.
CHÌA KHÓA
Khóa là dấu chỉ quyền lực như trong Is. 22,22.
Đức Giêsu đã nói với Phê-rô rằng Người trao cho ông quyền phép hay từ chối việc gia nhập Nước Trời (Mt. 16,19) (Kh. 3,7).
Đức Giêsu có quyền năng phục sinh tức là nắm chìa khóa cái chết và âm phủ (Hai-đê) (Kh. 1,18). Người lên án các ký lục cản trở người ta nhận biết được Nước Trời: tuy giữ chìa khóa trí thức, họ không sử dụng làm ích cho chính bản thân cũng như người khác (Lc. 11,52)
CHỮ VIẾT TẮT JHS
Trong khối Ki-tô giáo ở các nước nói tiếng La tinh thuộc Tây Âu thời Trung cổ (cả khối Công giáo và Tin Lành ngày nay), ký hiệu viết tắt tên Chúa phổ biến nhất là IHS hoặc IHC.
Đây là ba chữ cái đầu trong tên gọi Jesus bằng tiếng Hy Lạp: iota-eta-sigma. Chuyển ngữ theo tiếng La tinh thì eta là H, sigma là C hoặc S.
Trong bảng chữ cái La tinh, I và J không hề được phân biệt rạch ròi cho mãi đến thế kỷ 17. Vì vậy, JHS và JHC cũng như IHS và IHC.
Thỉnh thoảng, IHS còn được hiểu là Iesus Hominum Salvator (theo tiếng La tinh là “Jesus, Savior of men” - Jesus, Đấng cứu độ loài người).
DÂY PALLIUM
Sợi dây làm bằng lông chiên - được choàng lên cổ vị Tân Giáo Hoàng biểu trưng cho cái ách của Chúa Kitô và cho Thánh Ý Thiên Chúa. Người mang sợi dây Pallium phải phục vụ Thánh Ý Thiên Chúa, phục vụ Thánh Ý cũng chính là phục vụ ơn cứu độ nhân loại. Dây Pallium làm bằng lông chiên cũng gọi về những con chiên lạc mà Chúa Kitô vác trên vai và đem về nhà. Tất cả nhân loại và từng người trong nhân loạii đều là chiên lạc, và Chúa Kitô là Mục Tử nhân lành, Ngài đã đến và mang nhân loại trên vai. Ngài mời gọi chúng ta cũng phải “vác nhau trên vai” - nâng đỡ nhau.
PALLIUM - GIÁO HOÀNG
Dây Pallium của Đức Thánh Cha Benedict XVI khác với các Giáo hoàng tiền nhiệm. Vẫn mang hình dáng truyền thống nhưng dài hơn dây dành cho các TGM, dệt hoàn toàn bằng len trắng dài 2.6m và rộng 11cm làm bằng lông cừu. Trên sợi dây len có gắn hình 5 dấu thập giá biểu tượng của 5 dấu đinh của Đức Kitô với 3 chiếc đinh cài tượng trưng cho 3 dấu đinh thập giá.
PALLIUM – TỔNG GIÁM MỤC
Theo truyền thống đã có từ thế kỷ XI Pallium được tổ chức vào ngày lễ hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ hàng năm. Dây Paliium làm bằng lông chiên, biểu hiệu quyền bính trong chức vụ Tổng Giám Mục. Dây có chiều rộng khoảng 4 cm, đeo trên vai vòng quanh cổ, với hai giải, một giải thả xuống phía trước ngực, một giải xuống phía sau lưng. Trên dây có sáu Thánh giá màu đen. Dây này chỉ được sử dụng khi cử hành nghi thức phụng vụ trong phạm vi Tổng giáo phận của Tổng giám mục.
Lông chiên để dệt dây Paliium được lấy từ 2 con chiên đặc biệt do các cha dòng khổ tu nuôi tại Tre Fontane. Đức Thánh Cha làm phép 2 con chiên này vào ngày lễ Agnes (21-1) hàng năm, sau đó các nữ tu dòng Biển Đức tại vương cung Thánh đường Cecilia dệt thành dây Pallium. Tất cả đặt trong chiếc hộp đồng, đặt gần ghế của Thánh Phêrô, phía trên mộ Thánh Phêrô cho đến ngày 29-6. (Bàn thờ chính ở phía trên mộ Thánh Phêrô)
NHẪN NGƯ PHỦ
Chiếc nhẫn này gợi nhớ mẻ lưới kỳ diệu mà Phêrô và các tông đồ đã có được nhờ Chúa Kitô Phục Sinh (x.Ga 21, 1-8), và lời của Thánh Phêrô: “Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5, 5).
Nhẫn Ngư Phủ là một phần trong bộ lễ phục của Đức Giáo hoàng, người kế vị thánh Phêrô (xuất thân làm nghề chài lưới) dẫn dắt hội thánh Công giáo, biểu hiện cho sứ mạng của Thánh Phêrô là củng cố anh em mình. Mặt nhẫn chạm nổi hình thánh Phê rô đang thả lưới, ngụ ý các tông đồ là những ngư phủ lưới người (Mc 1, 17). Chiếc nhẫn này từng được dùng làm ấn tín đóng dấu các công văn của Giáo hoàng từ thế kỷ XV cho đến năm 1842.
Mỗi Giáo hoàng được đánh một chiếc nhẫn riêng bằng vàng. Quanh hình nổi thánh Phêrô có chạm tên của vị Giáo hoàng đương nhiệm. Trong buổi lễ đăng quang của Giáo hoàng, Đức Hồng y Niên trưởng sẽ xỏ nhẫn vào ngón áp út tay phải tân Giáo hoàng.
Khi Giáo hoàng qua đời, sẽ có nghi lễ tiêu hủy chiếc nhẫn với sự chứng kiến của các vị Hồng y. Điều này nhằm ngăn chặn việc đóng dấu những văn thư giả mạo trong thời gian chưa tìm được giáo hoàng kế vị.Các tín đồ Công giáo bày tỏ lòng thành kính với Đức Giáo hoàng bằng cách quỳ xuống hôn chiếc Nhẫn Ngư Phủ.
Cho vay nặng lãi và bài bạc có tội không?
Trước hết, xin nói về
việc cho vay nặng lãi. Đúng là Giáo Lý không nói cách rõ ràng về điều này.
Nhưng chỉ là không nói “rõ ràng” thôi, chứ không phải là không nói. Cho vay
nặng lãi là việc trục lợi từ một khoảng cho người khác vay với một tỷ lệ làm
lời không công bằng, vượt quá mức cần thiết. Về điều này, Công Đồng Laterano V
(1515) đã nói rằng đây là một điều sai vì “người ta làm lời từ việc sử dụng một
điều không tự sinh ra thêm, không có sức lao động, không có phí tổn, và không có
sự đánh liều nào của người cho vay.”
Việc cho vay nặng lãi có
chút dính dáng đến điều răn thứ Bảy, được sách GLHTCG nói đến như những hành vi
không hợp pháp trong số 2409, và không nằm trong những hợp đồng công bằng với
mức lợi hợp lý nói đến trong số 2410. Vì thế, cho vay với một mức lời theo tỷ
giá thị trường chung là hợp lẽ công bằng. Trục lợi từ người khác bằng cách tự
quy định một mức cao hơn không hợp lý là sai vì nó đã xếp vị trí của con người
xuống thấp hơn lợi ích vật chất, trong khi điều ngược lại [con người cao hơn
vật chất] mới là điều đúng.
Về chuyện bài bạc, sách
GLHTCG, số 2413 có nói rằng những trò chơi may rủi hay đánh bài/cá cược tự nó
không trái với lẽ công bằng. Chúng chỉ trở nên không thể chấp nhận được về mặt
luân lý khi nó lấy đi khỏi người ta những gì cần thiết để chu cấp cho nhu cầu
của mình và của người khác. Đam mê bài bạc sẽ biến người ta thành nô lệ. Gian
lận trong bài bạc sẽ trở thành một vấn đề lớn, trừ trường hợp những tác hại do
nó mang lại quá nhỏ đến độ người bị hại coi nó chẳng đáng là gì. Nếu nó không
gây ra thiệt hại lớn thì chính sự gian lận cũng đã là một điều sai trái rồi.
Như vậy, điều làm nên tội
trong việc đánh bài/cá độ là việc ta bị cuốn hút đến độ đánh mất chính mình,
không còn làm chủ mình, khiến mình trở thành nô lệ của nó, mình bị mất đi những
điều kiện để chăm sóc cho chính mình và cho những ai mà mình có trách nhiệm.
Đánh bài/cá độ một cách thái quá sẽ rất dễ dẫn đến chuyện hơn thua, gian lận,
bất chấp tất cả. Bởi thế, tự bản thân việc tham gia những trò chơi may rủi
không vi phạm về mặt luân lý, nhưng nó sẽ rất dễ dẫn người chơi đến những hậu
quả không tốt hay đến những hành vi khác là những hành vi vi phạm luân lý.
(trích trong SMITH, Msgr.
WILLIAM B,. Modern Moral Problems: Trustworthy Answers to Your Tough Questions,
edited by Donald Haggerty, Ignatius Press, San Francisco, 2012, tr 241-246)
Lược dịch: Pr. Lê Hoàng
Nam, SJ
BỨC TRANH HAI MẶT
Có lần, cô bạn của tôi cho tôi xem tác phẩm của cô ấy, một bức tranh kính. Tôi hí hoáy xem nó trước khi cô ấy giới thiệu toàn cảnh. Tôi nhìn một hồi rồi tự bình luận tác phẩm. Tới khi cô ấy giới thiệu tác phẩm, bạn có biết chuyện gì xảy ra không? Wow, cô ấy dắt tôi đi ngược lại phía sau bức tranh ấy và nói đây mới là chính diện. Nhưng vì tôi đã quen với bức tranh của phản diện nên nhìn chính diện lại không đẹp bằng. Ôi thế mới hay cái nhìn mình quan trọng biết bao.
BỨC TRANH PHẢN DIỆN
Cuộc đời đôi khi là bức tranh phản diện với nhiều nguy biến, bạo lực, tội ác… Ta cứ than vãn, đời sao chán ngán. Nhưng bạn ơi, nếu ta nhìn cho kỹ thì bức tranh phản diện kia lại nổi lên những điều đẹp lắm chứ. Bạn có thấy, giữa những sự dữ của thiên tai thì bóc trần hình ảnh của lòng nhân hậu lá lành đùm lá rách; giữa những bạo lực chiến tranh, khủng bố thì đó đây vang lên bảo vệ hòa bình và công lý; giữa những tội ác thì vẫn còn đó những tấm lòng khoan dung tha thứ … Nếu ta chỉ nhìn vào những chấm đen không thôi thì quả thật bức tranh tối tăm quá. Nhưng bạn đừng quên bức tranh không chỉ có một màu. Giữa gam màu chủ tối thì gam màu sáng sẽ làm bật lên giá trị của thực tại hy vọng. Nó dù bé nhỏ nhưng lại là chiều sâu của bức tranh phản diện. Bạn nhìn ngắm thật kỹ sẽ thấy giá trị của những tia sáng li ti trong bức tranh đầy gam màu tối đen. Và đừng quên niềm hy vọng có thể làm ta vực dậy tương lai.
BỨC TRANH CHÍNH DIỆN
Vâng, cuộc đời là một thực tại sống động nhiều bất ngờ làm cho đời ta nên tươi sáng. Vậy nên, chắc chắn cuộc đời luôn có những bức tranh chính diện diễn tả thành công, hạnh phúc và niềm vui qua những nụ cười tươi, những cánh hoa xinh và ánh sáng dịu êm… Bạn không thể dùng gam màu tối để biểu cảm những cảm xúc đẹp này. Nhưng nếu bức tranh chỉ toàn màu sáng thì bạn tưởng tượng xem có gì hấp dẫn chăng? Nó chỉ làm ta thấy cái bề mặt mà không có chiều sâu. Nên trong cả bức tranh chính diện vẫn luôn tồn tại gam màu tối để làm bật lên gam màu sáng cần thiết cho tổng thể. Chính gam màu tối ấy lại là điểm nhấn và làm cho bức tranh có chiều sâu hấp dẫn đấy bạn ạ. Một chút khổ đau trong đời đôi khi lại cần thiết để cho ta lớn lên và thêm ý chí kiên cường.
Vậy nên, phản diện hay chính diện đó là cách nhìn của ta về cuộc đời. Nếu trong muôn khó khăn, bạn nhìn ra một lối mở hướng về tương lai tươi sáng thì bức tranh ấy không quý giá để ta có một nỗ lực vươn sao ? Và trong muôn ngàn thành đạt, bạn vẫn luôn để ngỏ một sự phòng chừng bản thân để không bị sa lầy và đưa mình lên quá. Vậy chẳng phải là người khôn sao ? Như thế tranh đẹp hay xấu không tại bức tranh như do chính cái nhìn của ta về nó. Và cũng chẳng phải do đây là chính diện hay phản diện, đó là cách ta đặt tên cho nó đấy thôi. Bởi cuộc đời vẫn là bức tranh hai mặt. Hãy luôn tỉnh thức để có thể đón nhận cả hai trong niềm vui và hy vọng.
Cầu chúc bạn luôn sống vui trong mọi lúc, mọi nơi và mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Không có gì nhận chìm bạn và cũng không có chi làm bạn bay bổng sống xa rời thực tại.
Sr. Xuân Hy Vọng
TRÊN BÀN CƠM
Để có thể sống con người
không thể thiếu lương thực. Lương thực luôn được sắp xếp đa dạng với nhiều
hình thức để tôn lên phẩm vị của lương thực ấy, và cũng là cách diễn đạt nét
văn hóa nhân loại. Nét văn hóa ấy ta sờ đụng mỗi ngày qua bàn cơm (mâm cơm). Đó
cũng là điểm cuốn hút tôi đến với Hội Dòng, là nơi nâng đỡ ủi an tôi, và là nơi
tôi có kỷ
niệm khó phai.
BỮA CƠM ẤN TƯỢNG
Tôi còn nhớ như in trong tâm
khảm ngày đầu tiên tôi vào Dòng. Ngày ấy tôi thấy mọi sự đều rất lạ, rất mới
mẻ. Cái lạ nhất là nhà cơm tu viện : có những dãy bàn dài từ đầu phòng đến cuối
phòng, im phăng phắc, im như chẳng có ai ở. Nhưng tiếng chuông vừa vang lên thì
mọi cửa đều mở toang và người ở đâu nhiều vô kể cứ âm thầm thứ tự vào
bàn. Điều tôi lấy làm thú vị là : Người lớn, người bé đều cùng một cỡ bàn, ăn
cùng một nóm và tự phục vụ. Chị lớn và em bé cùng rửa chén không ai ngồi
không để người khác phục vụ cả.
Suốt bữa cơm tiếng cười nói cứ liên tiếp nhau : Chị kể chuyện thế giới, người
kể chuyện đi đâu đó. Chị này gắp cho chị kia miếng thịt, chị nọ tiếp một bát
canh ... Đối với tôi lúc đó đúng là thiên đàng tại thế.
Nơi tôi ở có rất nhiều dòng
tu, tôi cũng được tham dự những bữa cơm ở một vài cộng đoàn dòng tu nhưng chưa
từng có bữa cơm đầm ấn như thế. Tôi thấy một thôi thúc như đây chính là “nhà”
của mình, nơi tôi cần đến và
gắn bó. Nay tôi đã là thành viên thực sự của Hội Dòng Đaminh Tam Hiệp.
BỮA CƠM CHIA SẺ
Có lần tôi được đến một cộng
đoàn vùng sâu vùng xa. Cộng đoàn chỉ gần nhà thờ, còn mọi cái như chợ búa, nhà
trường, bệnh xá
đều xa. Cộng đoàn không khá chi, nên bữa ăn rất thanh đạm, các món ăn chủ yếu
là cơm và “cây nhà lá vườn”. Nhưng chị em vui với chén cơm khan với ngọn đèn
dầu tù mù. Bữa cơm nào cũng có tiếng cười. Cơm không ngon, đồ ăn cũng chẳng ngon nhưng chị em trân trọng
nhau nên ăn rất thật tình.
Ngày ngày chị em làm việc nặng nhọc, nhưng qua bữa cơm chị em quên đi
những mỏi mệt, lấy lại sinh khí để tiếp tục hoạt động. Mãi tới bây giờ, những
kỷ niệm đẹp như in trong tôi không phải nơi thành thị sang trọng mà là ở nơi
đây, nơi miền quê hẻo lánh này. Bởi nơi đây có tình yêu chân thành, nơi nâng
đỡ tôi quên đi những khó khăn để tiếp tục tiến bước về phía trước.
BỮA CƠM MẤT TÌNH
Thế nhưng cũng có
những bữa cơm lặng lẽ suốt bữa
ăn không ai có thể cười, dù là cười ngượng. Tôi đã có một bữa cơm khó phai dù
tôi muốn cố quên đi, nhưng càng cố nó càng rõ nét thêm. Người chị mà tôi có lúc
rất tôn trọng, rất qúi mến đã từng tâm sự với nhau. Thế mà lần ấy lần chị đã
chập đôi muỗng và nĩa lại với nhau đập mạnh xuống bàn với nét mặt đanh lại, nói
lời mà tâm trí tôi chưa từng nghĩ tới. Khi ấy, tôi cảm thấy có cái gì đó chặn
đứng cổ họng, nhưng tôi cố kìm lòng để ăn hết bữa cơm còn dở dang. Cái vật chắn
ở cổ tôi như vô hình chắn cả tôi với chị. Từ ngày đó, tôi mất thiện cảm với chị.
Dù chị đã đến nói với tôi. Thế
nhưng, mãi tới bây giờ tôi vẫn không thể nói chuyện tự nhiên được, bởi cứ thấy
chị thì tôi lại thấy hình ảnh, nét mặt của chị ngày đó. Không biết khi nào tôi có thể quên được hình ảnh
đó, để ít nhất là có thể tươi cười với nhau, có thế lòng tôi mới vui
được.
Trên bàn cơm không chỉ có những nét văn hóa được
thể hiện nhưng còn là chuyện sống còn của con người. Nó không hệ tại bởi thực
phẩm, cách bài trí, nhưng hệ tại bởi tấm lòng trao nhau. Có những bữa cơm đủ
làm đổi đời một con người, làm vực dậy những tâm trí yếu hèn, làm nối kết tình
huynh đệ; thì cũng có những bữa cơm giết chết tình người, làm xa cách
tình chị em. Nên người xưa dạy “có đánh thì tránh bữa cơm” … không chỉ để ăn
(nuốt), nhưng còn để bàn cơm trở thành bàn tiệc tình yêu, nơi chuyển trao sự
sống. Bữa cơm hằng ngày dẫn ta tới bàn tiệc cao trọng hơn là “bàn tiệc Thánh
Thể” – trung tâm đời sống chúng ta.
Xuân Hy Vọng
TÌM KIẾN CHÂN LÝ
“Chân lý ” là gì? “Sự
thật” là gì? Đó là câu hỏi mà bao đời, bao người nối tiếp nhau tìm kiến câu trả
lời cho vấn đề này. Hành trình đi tìm chân lý là hành trình của kiếp người.
SỰ PHẢN TỈNH
Cuộc sống ta không phải là một chuỗi ngày bằng phẳng nhưng luôn
luôn có những biến cố làm cho cuộc sống phải năm chìm, bảy nổi, chín cái lênh
đênh. Nhưng như một khuôn nhạc có nhiều loại hình dấu tạo thành những trường độ
âm giai khác nhau, kết nên những bản nhạc bất hủ. Những biến cố đời thường
chính là những chặng dừng chân giúp ta cảnh tỉnh, thể hiện thái độ “tỉnh thức”
mà Chúa Giêsu đã kêu gọi. Để tạo nên những chất thi vị cho cuộc đời. Để như
Phêrô khiêm nhu sau khi chối Chúa, Phaolô trở lại sau khi té ngựa, Augustinô từ
bỏ tất cả sau khi thương tật, Anphongsô theo Chúa sau khi thất bại nơi tòa đời.
Phản tỉnh là điểm khởi đầu cho bước đột phá mới, hay khởi đầu
cho sự biến đổi. Khởi đầu ấy là chất xúc tác cho ta lên đường kiếm tìm chân lý.
LÊN ĐƯỜNG KIẾM TÌM
Con người còn kiếm tìm là con người còn sức sống và thái độ
“kiếm tìm” là thái độ cao quý của con người. Vì những người không kiếm tìm là
người an phận thủ thừa. Con người ấy sống cũng như chết. Abraham ra đi và đi
mãi mà không nản chí, không sờn lòng; hoặc như ba nhà chiêm tinh mất ánh sao
vẫn không bỏ cuộc… Họ quyết tâm kiếm tìm như vị thương gia tìm được viên ngọc
quý đã đi bán tất cả những gì mình có để mua viên ngọc ấy. Họ lên đường
bằng việc ra khỏi nếp sống cố định của mình, lên đường bằng việc thay đổi lối
sống, tư tưởng hành vi mới. Họ lên đường không nghỉ ngơi và không chần chừ.
TÂM HỒN MỞ RỘNG
Nhưng dẫu chúng ta có kiếm tìm đến đổi mồ hôi, sôi con mắt mà
chỉ bằng lý trí, hay trên lý thuyết thì vẫn là những từ ngữ khoa trương không
thấm nhập vào da thịt. Chân lý, sự thật không phải là một định đề vật lý, một
công thức toán học, hay là định nghĩa của một vấn đề của khoa học nhân văn, sự
thật là vấn đề của siêu nhiên. Nên sự thật không thể nắn bắt bằng lý trí uyên
bác mà phải bằng con tim. Như Đức Giêsu đã nói “Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì
Cha giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết
điều này, nhưng đã mặc khải cho những người bé mọn”. Những người bé mọn là
những người có tâm hồn rộng mở. Họ rộng mở trước khổ đau – vui mừng hoan hỉ,
hay thất bại khinh khi … Mở rộng với tình yêu tha thứ để đến với mọi
người và hòa chung với dòng đời, cùng thao thức trăn trở với kiếp nhân sinh, để
cảm mến hương vị dịu ngọt của vũ hoàn, để lắng nghe bản nhạc đời thường bằng cả
con tim. Có thế ta mới tiếp nhận được chân lý toàn thiện.
Chân lý toàn thiện là chính Đức Kitô, vì Ngài đã nói “Ta là
đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Hành trình đi tìm chân lý là hành
trình đi tìm Đức Kitô. Đức Kitô không ở đâu ngoài cuộc đời, nhưng ở trong và
giữa cuộc đời. Ngài vẫn đồng hành với ta trong cuộc sống nhưng để thấy Ngài và
lãnh hội ý Ngài thì chúng ta cần chạy đến với Chúa Thánh Thần. Bởi chính “Chúa
Thánh Thần sẽ hướng dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13)
Ta tin chắc rằng: cuối cùng con đường hành trình kiếm tìm
là chân lý, ở đó ta gặp được chân lý, gặp được Đức Kitô. Nhưng gặp gỡ mới
chỉ là khởi điểm. Trọn vẹn hành trình là ở lại và sống với chân lý. Sống
chân lý là thể hiện sự thật trong cuộc sống mình.
Xuân Hy Vọng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






